Thư viện eBook  
THÔNG TIN HƯỚNG DẪN DOWNLOAD DIỄN ĐÀN

Go Back   THƯ VIỆN - EBOOK - Thư viện Sách Điện Tử đọc trên Máy tính và Thiết bị di động > DỰ ÁN EBOOK > Phòng đọc trực tuyến

Phòng đọc trực tuyến Những ebook đang được đánh máy và thực hiện

Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu, đọc kỹ Nội qui Hướng dẫn trước khi gửi bài và đặt câu hỏi - Chúc các bạn một ngày vui vẻ!
Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 12-12-2007, 09:30 AM   #31
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Apollon Nikolayevich Maykov (tiếng Nga: Аполлон Николаевич Майков, 4 tháng 6 năm 1821 – 20 tháng 3 năm 1897) là nhà thơ Nga, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Sankt-Peterburg (1853).

Tiểu sử:
Apollon Maykov sinh ở Moskva, con trai của Nikolay Apollonovich Maykov, là nhà quí tộc, họa sĩ, viện sĩ. Mẹ và các anh chị em của Apollon Maykov đều là những nhà văn, nhà phê bình, dịch giả. Năm 1834 cả gia đình chuyển về Sankt-Peterburg. Từ năm 1837 – 1841 ông học luật ở Đại học Sankt-Peterburg, đầu tiên say mê hội hoạ nhưng về sau đã dành toàn bộ sức lực cho thơ ca.
Năm 1842 được Nga hoàng Nikolay I cho đi du lịch ở nước ngoài, ông sang Ý, Pháp, Đức và Áo-Hung. Năm 1844 trở về Nga, ông làm việc ở Bảo tàng Rumyantsev, gặp gỡ và làm quen với Belinsky, Nekrasov, Turgenev. Thời kỳ này ông trở thành nhà thơ nổi tiếng, thường xuyên được in thơ trên những tạp chí uy tín nhất của thời đó, ông cũng là người thường xuyên tham gia các buổi đọc thơ trước công chúng và dành được sự mến mộ của bạn đọc. Thời kỳ tiếp theo ông làm cố vấn và sau đó là chủ tịch của Hội đồng kiểm duyệt văn học nước ngoài. Năm 1870 ông dịch xong tác phẩm Слова о полку Игореве (Bài ca về cuộc hành binh Igor) ra tiếng Nga hiện đại, ngoài ra, ông còn dịch nhiều tác phẩm thơ cổ điển của Hy Lạp, Tây Ban Nha, Belarus, Serbia, các tác phẩm của Heinrich Heine, Adam Mickiewicz, Goethe… Năm 1882 ông được tặng Giải thường Pushkin của Viện Hàn lâm Khoa học.
Apollon Maykov mất ở Sankt-Peterburg năm 1897.

Tác phẩm:
*Сборник «Стихотворения» (1842)
*Поэма «Две судьбы» (1845)
*Поэма «Машенька» (1846)
*Поэма «Савонарола» (1851)
*Поэма «Клермонтский собор» (1853)
*Цикл стихов «В антологическом роде»
*Цикл стихов «Века и народы»
*Цикл стихов «Вечные вопросы»
*Цикл стихов «Неаполитанский альбом»
*Цикл стихов «Новогреческие песни»
*Цикл стихов «Отзывы истории»
*Цикл стихов «Очерки Рима»
*Драма «Два мира» (1872)
*Драма «Три смерти» (1851)
*Драма «Смерть Люция» (1863)


FORTUNATA

Hãy yêu anh, đừng suy nghĩ trầm ngâm
Đừng buồn bã, đừng nghĩ điều bất hạnh
Đừng trách cứ hay nghi ngờ trống vắng!
Nghĩ suy gì? Anh của em, em của anh!

Hãy quên hết, và trao hết cho anh!..
Và em đừng nhìn anh buồn bã thế!
Đừng cố đoán ra con tim em nhé
Em đi đi – và trao hết cho tim!

Vì anh không hề đo đếm gì tình
Không, tình yêu là tâm hồn anh đó
Anh yêu, tin và anh tuyên thệ…
Em như cuộc đời biết mấy đẹp xinh!

Hạnh phúc sẽ không biến mất trong tình
Em hãy tin, người kiêu hãnh, như anh
Rằng đến muôn đời mình không từ giã
Và nụ hôn đến muôn thuở nghe em…
1845



Đừng nói rằng không có niềm cứu rỗi

Đừng nói rằng không có niềm cứu rỗi
Rằng em rã rời trong nỗi buồn thương:
Đêm càng tối ngôi sao càng chói lọi
Càng đau thương càng thấy Chúa gần hơn.


Hồn thế kỷ

Hồn thế kỷ là thần tượng của các anh
mà thế kỷ của các anh là khoảnh khắc ngắn ngủi.
Thần tượng sẽ rơi vào quên lãng, vô cùng…
Hỡi những kẻ điên cuồng!
chẳng lẽ lý trí của các anh không hiểu nổi
Rằng cao hơn mọi thế kỷ là cõi Vĩnh hằng!…


Hạnh phúc là gì?…

Hạnh phúc là gì?…
Trên con đường của mình
Nghĩa vụ sai khiến anh về đâu – hãy đến
Không biết kẻ thù, không đo điều ngăn cản
Hãy yêu, hãy hy vọng, hãy tin.


Ghi vào albom

Cuộc đời hãy còn trước mặt tôi đây
Tất cả trong mắt nhìn, tai nghe tiếng
Giống như một thành phố xa buổi sớm
Đầy âm thanh và ánh sáng đầy!..

Và tất cả những khổ đau ngày trước
Tôi nhớ về với một vẻ hân hoan
Như những bậc thang để tôi bước lên
Những bậc thang dẫn tôi về mục đích…




Dmitry Sergeyevich Merezhkovsky (tiếng Nga: Дмитрий Сергеевич Мережковский, 14 tháng 8 năm 1865 – 9 tháng 12 năm 1941) là nhà văn, nhà phê bình, nhà thơ Nga. Merezhkovsky là chồng của nữ nhà văn, nhà thơ Nga Zinaida Gippius.

Tiểu sử:
Dmitry Merezhkovsky sinh ở Sankt-Peterburg trong gia đình một công chức hoàng gia, là con thứ sáu của một gia đình có 9 người con. Từ năm 1884 đến 1889 học lịch sử và ngôn ngữ ở Đại học Sankt-Peterburg. Bắt đầu in thơ từ năm 13 tuổi trên các báo và tạp chí. Năm 15 tuổi, bố tổ chức cho Merezhkovsky gặp nhà văn Fyodor Dostoyevsky – là người không hài lòng với cuộc sống hiện tại của nhà thơ trẻ. “Để sáng tác tốt – cần đau khổ và đau khổ”, những lời này của Fyodor Dostoyevsky, không ngờ, được thể hiện trong số phận của Merezhkovsky sau này.

Năm 1888 in tập thơ đầu tiên, năm 1892 in tập thơ thứ 2. Năm 1896, chưa đến 30 tuổi, đã có tên trong Từ điển bách khoa “Brokgayz và Efron”, được gọi là “một nhà thơ nổi tiếng”. Năm 1889 Merezhkovsky cưới Zinaida Gippius, sau này cũng là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của Nga sống lưu vong ở nước ngoài. Năm 1900 cùng với Zinaida Gippius, Vasily Rozanov và một số nhà thơ khác thành lập “Hội Triết học và Tôn giáo”. Dmitry Merezhkovsky chào mừng Cách mạng Tháng Hai nhưng chống đối Cách mạng Tháng Mười. Kết quả là sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, ông bỏ ra sống ở nước ngoài. Năm 1920 đi sang Ba Lan, sau đó sang Pháp. Sau khi ra nước ngoài, tác phẩm của Merezhkovsky hầu như không được nhắc đến ở Liên Xô. Di sản văn học của Merezhkovsky rất đồ sộ, bao gồm tiểu thuyết, các tác phẩm về triết học, tôn giáo, phê bình, thơ. Ngoài ra ông còn là người dịch nhiều tác gia cổ điển của Hy Lạp và La Mã cổ đại. Tiểu thuyết của Merezhkovsky có sự ảnh hưởng đến các nhà văn lớn của thế giới như Mikhail Bulgakov, James Joyce, Thomas Mann…

Dmitry Merezhkovsky là người nhiều lần có tên trong danh sách đề cử giải Nobel Văn học nhưng vì ông là người ủng hộ Hitler và Mussolini nên không được trao giải. Năm 1939 ông phát biểu trên Đài phát thanh Paris ủng hộ Hitler bị phản đối. Sau đó là những ngày tháng nghèo túng và bệnh tật. Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1941 ở Paris bị Đức chiếm đóng. Tác phẩm của Dmitry Merezhkovsky bắt đầu được bạn đọc quan tâm ở phương Tây từ những năm 1950–1960, còn ở Nga từ những năm 1980-1990, thế kỷ XX.

Thư mục:
I.
*Полное собр. сочин., 17 тт., изд. т-ва М. О. Вольф, СПБ, 1911-1913; То же, 24 тт. (полнее), изд. т-ва Сытина, М., 1914-1915. Не вошли в "Собр. сочин.": 14 декабря, П., 1918;
*Рождение богов. Тутонкамон на Крите, Прага, 1925;
*Мессия, "Современ. записки", Париж, 1926, XXVII-XXXII (романы);
*Будет радость, П., 1916; Романтики, Петроград, 1917 (драмы);
*Две тайны русской поэзии. Некрасов и Тютчев, Петроград, 1915;
*Завет Белинского, Петроград, 1915 (критика).

II.
*Ларин О. Я., Хронологич. указатель произведений и литературы о произведениях Мережковского, при т. XXIV Полного собр. сочин., СПБ, 1915;
*Фомин А. Г., Библиография новейшей русской литературы, "Русская литература XX в.", под ред. С. А. Венгерова, т. II, вып. V, М., 1915;
*Мезьер А. В., Русская словесность с XI по XIX ст. включительно, ч. 2, СПБ, 1902;
*Владиславлев И. В., Русские писатели, изд. 4-е, Гиз. Л., 1924;
*Владиславлев И. В, Литература великого десятилетия (1917-1927), том I, Гиз, Москва, 1928;
*Мандельштам Р. С., Художественная литература в оценке русской марксистской критики, ред. Н. К. Пиксанова, издание 4-е, Гиз, Москва, 1928.




YÊU THƯƠNG – THÙ HẬN

Ta yêu nhau nhưng mà ta không hiểu
Cả hai người cái mới vẫn khát khao
Nhưng mà ta cũng không phản bội nhau
Dù tình yêu rất cầu kỳ, nũng nịu.

Ta muốn được tự do như ngày trước
Ta nghĩ rằng xiềng xích sẽ giật tung
Nhưng đều vô phương cứu chữa bao lần
Kiếp nô lệ của mình ta hiểu được.

Và cả hai đều không ưa tiên đoán
Vì cả hai không biết cách sống chung
Không thù hận bằng tất cả tấm lòng
Không yêu thương đến vô cùng vô tận.

Ôi, những điều quở trách muôn thuở ấy
Hận thù này quả láu lỉnh, tinh ranh
Cả hai cô đơn, cả hai thấy buồn
Cả hai thấy ghét – gần nhau mãi mãi.

Nhưng tranh cãi với em, anh mệt lử
Anh vẫn yêu, vẫn đau khổ, đọa đầy
Em yêu ơi, anh cảm nhận điều này
Nơi không có em, cuộc đời chẳng có.

Điều dối gian hay sự quỷ quyệt nào
Mà cả đời ta cùng nhau cãi cọ
Mỗi người đều muốn trở thành tiếm chủ
Có ai chịu làm nô lệ ai đâu.

Nhưng dù sao, tình chẳng cho ta quên
Mà lớn lên khắp nơi và muôn thuở
Như cái chết, mù quáng và mạnh mẽ
Tình yêu thương như thù hận mà em.

Chỉ khi một người đã dưới suối vàng
Thì người còn lại may ra hiểu được
Sức mạnh của tình yêu không thương xót
Trong giờ cuối cùng, trong phút lâm chung!




CÔ ĐƠN TRONG TÌNH YÊU

Trời dần tối trên thành phố lạ
Hai đứa ngồi quay mặt vào nhau
Trong bóng đêm lạnh lẽo, u sầu
Cả hai lặng im và đau khổ.

Và cả hai từ lâu hiểu rõ
Rằng ngôn từ bất lực, vô sinh:
Một khi rất tội nghiệp ở trong tim
Thì thể hiện bằng lời không thể.

Không điều gì và không ai có lỗi
Ai không thể nào thắng được kiêu hùng
Thì người này muôn thuở cô đơn
Ai yêu – phải trở thành nô lệ.

Khi khát khao hạnh phúc và lòng tốt
Sống lắt lay vất vưởng tháng ngày xanh
Tất cả chúng ta muôn thuở một mình
Anh sống một mình, một mình anh chết.

Trên kính cửa sổ một màu xám xịt
Đã tắt rồi ánh sáng buổi ban chiều
Chỉ cái chết dạy được cho ta yêu
Tất cả đi vào mà không lối thoát.




Lev Aleksandrovich Mey (tiếng Nga: Лев Александрович Мей, 13 tháng 2 năm 1822 – 16 tháng 5 năm 1862) là một dịch giả, nhà viết kịch, nhà thơ Nga.

Tiểu sử:
Lev Mey sinh ở Moskva trong một gia đình quí tộc gốc Đức đã sa sút. Bố ông là một sĩ quan từng tham gia trận đánh Borodino nổi tiếng, mất khi ông mới 5 tuổi. Học xong trường Lycee, ông làm việc trong tòa thị chính Moskva. Những năm 1848 – 1853 là thành viên tích cực của tạp chí Москвитянин, làm quen với các nhà thơ: Grigoryev, Ostrovsky. Từ năm 1853 chuyển về sống ở Sankt-Peterburg, làm việc ở cơ quan lưu trữ và tập trung cho việc sáng tác. Ông cộng tác với các tạp chí: «Отечественные записки», «Сын отечества», «Светоч», «Время, và các báo: «Русский мир», «Иллюстрация». Từ năm 1862, vợ ông vay tiền của bạn bè mở tạp chí «Модный магазин» được bạn đọc đón chào rất nồng nhiệt.

Thơ của Lev Mey giàu nhạc điệu, nhiều bài thơ của ông lấy đề tài lịch sử và dân gian, chuyển tải một cách trung thành tâm lý và những nhân vật của lịch sử. Ngoài sáng tác thơ, văn, Lev Mey còn dịch nhiều nhà thơ lớn như Anacreon, Lord Byron, Johann Wolfgang von Goethe, Heinrich Heine, Taras Shevchenko, Adam Mickiewicz … ra tiếng Nga. Nhiều bản dịch thơ của ông đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Lev Mey mất ở Sankt-Peterburg năm 1862.

Tác phẩm:
*Хозяин, 1849
*Оборотень, 1858
*Песня про княгиню Ульяну Андреевну Вяземскую, 1858
*Песня про боярина Евпатия Коловрата, 1859
*Александр Невский, 1861
*Юдифь, 1855
*Еврейские песни, 1856
*Соборное Воскресенье, 1850
*Медвежья правда, 1850
*Гривенник, 1860
*Чубук, 1860
*Батя, 1861
*Царская невеста (1849)
*Псковитянка (1849-1859)
*Полн. собр. соч., 4 изд., т. 1-2, СПБ, 1911
*Избр. произв. [Вступ. ст. Г. М. Фридлендера], М. - Л., 1962
*Избр. произв. [Вступ. ст. К. К. Бухмейер], Л., 1972


Hỡi người ca sĩ

Hỡi người ca sĩ sống không lâu
Vì anh chẳng còn sức nữa
Nhưng tình yêu sẽ còn rất lâu
Những bông hoa trên mồ anh sẽ nhổ.

Và hồi âm bài hát trên mồ anh
Sẽ muôn thuở không hề im lặng
Một khi Chúa Trời chưa lên tiếng:
“Lazarus, ngươi hãy hồi sinh!”


Tôi muốn có một lời

Tôi muốn có một lời
Hoà vào nỗi buồn tôi
Rồi ném vào ngọn gió
Bay về nơi xa xôi.

Mặc dù lời có buồn
Theo gió đến với em
Mọi nơi và mọi lúc
Rót vào trong lòng em!

Nếu mỏi mệt mắt nhìn
Khép lại trong bóng đêm
Dù cho lời buồn bã
Vang trong mộng về em.


Tại sao?

Hỡi người đẹp xa xăm
Sao đi mơ về anh
Bừng lên trong tơi xốp
Một chiếc gối cô đơn?

Gập người trong bóng đêm!
Những con mắt lười nhác
Bụi tóc tơi và xốp
Và bờ môi kiêu hùng.

Anh mơ giữa đời thường
Giấc mộng của mùa xuân
Trong con tim đã mất
Đêm địa ngục trùm lên.

Hỡi người đẹp xa xăm
Sao đi mơ về anh
Nếu lạnh cùng giấc mộng
Một chiếc gối cô đơn?
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2007, 09:40 AM   #32
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Vladimir Vladimirovich Nabokov (tiếng Nga: Влади́мир Влади́мирович Набо́ков, 22 tháng 4 năm 1899 – 2 tháng 7 năm 1977) – nhà văn nhà thơ Nga, sáng tác bằng tiếng Nga và tiếng Anh. Nabokov là tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng thế giới, trong đó, tiểu thuyết “Lolita” được quay thành nhiều bộ phim nổi tiếng. Ngoài văn xuôi và thơ, ông còn là dịch giả, dịch những tác phẩm kinh điển từ tiếng Nga sang tiếng Anh và ngược lại.

Tiểu sử:
Vladimir Nabokov sinh ở Saint Peterburg trong một gia đình quí tộc giàu có và lâu đời. Ông nội từng là Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Nga hoàng Aleksandr II và Aleksandr III. Bố là một nhà chính trị nổi tiếng, sau cách mạng Tháng Hai làm bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ lâm thời Nga. Mẹ cũng là con gái của một nhà có dòng dõi quí tộc. Mặc dù vậy, Vladimir Nabokov là người hờ hững với chính trị. Tuổi nhỏ Nabokov thích sưu tập tem và nghiên cứu cuộc sống các loài bướm. Từ năm 1911 – 1916 học ở trường trung học Tenishevsky, nơi trước đấy Osif Mandelstam từng học. Năm 1916 in tập thơ đầu tiên Стихи (Thơ). Sau Cách mạng tháng Mười, Nabokov chuyển xuống vùng Crimea, nơi bố làm Bộ trưởng tư pháp của cộng hoà Crimea. Sau khi Hồng quân chiếm Crimea, cả gia đình đi ra nước ngoài (tháng 4 năm 1919). Những năm 1919 – 1922 Nabokov học văn học Nga và văn học Pháp ở Đại học Cambridge, Anh. Sau khi tốt nghiệp trở về Berlin, Đức cùng với gia đình. Năm 1927 cưới vợ và viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên: Машенька. Thời gian từ năm 1927 đến năm 1937 ông viết 8 tiểu thuyết bằng tiếng Nga. Cuối những năm 30 Đức quốc xã nắm chính quyền ở Đức, gia đình Nabokov chuyển sang Paris, còn khi Thế chiến II xảy ra, cả gia đình sang Mỹ. Vì không còn cộng đồng người Nga ở châu Âu nên không còn bạn đọc bằng tiếng Nga, kể từ đây Nabokov chuyển sang sáng tác bằng tiếng Anh. Cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh đầu tiên The Real Life of Sebastian Knight (Cuộc đời thực của Sebastian Knight, 1941), tiếp đến là nhiếu tiểu thuyết bằng tiếng Anh mà nổi tiếng nhất là Lolita, in ở Pháp năm 1955, ở Mỹ năm 1958, ở Anh năm 1959. Năm 1960 Nabokov trở về sống ở Montreux, Thuỵ Sĩ và tiếp tục viết một số tiểu thuyết, đáng kể nhất có Pаle Fire (Lửa nhạt, 1962), Ada, or Ardor (Ada hay Ardor, 1969). Ngoài sáng tác, Nabokov còn là một dịch giả thiên tài, ông là tác giả của các bản dịch "Слово о полку Игореве"(Bài ca về binh đoàn Igor), "Евгений Онегин" (Evgeny Onegin), thơ trữ tình của Pushkin, Lermontov, Tyutchev sang tiếng Anh, Alice's Adventures in Wonderland từ tiếng Anh sang tiếng Nga cũng như nhiều tiểu thuyết của mình sang hai chiều ngược lại. Vladimir Nabokov nói về mình: “Tôi là nhà văn Mỹ, sinh ở nước Nga, học văn học Pháp ở Anh trước khi chuyển về Đức ở 15 năm… Đầu tôi nói chuyện bằng tiếng Anh, tim tôi – bằng tiếng Nga, tai tôi – bằng tiếng Pháp”.
Vladimir Nabokov mất tại Montreux, Thuỵ Sĩ để lại cuốn tiểu thuyết The Original of Laura (Laura thực) đang viết dở.

Tác phẩm:
Văn xuôi viết bằnng tiếng Nga:
*Машенька (Mashen'ka, 1926)
*Король, дама, валет (Vua, hậu và con nhép, 1928)
*Защита Лужина (Bảo vệ Luzhina, 1930)
*Соглядатай (Sogliadatai, 1930)
*Подвиг (Chiến công, 1932)
*Камера Обскура (Buồng Obscura, 1932)
*Отчаяние (Tuyệt vọng, 1936)
*Дар (Quà tặng, 1938)

Văn xuôi viết bằng tiếng Anh:
*The Real Life of Sebastian Knight (Cuộc đời thực của Sebastian Knight, 1941)
*Bend Sinister, 1947
*Lolita, 1955 (tác giả tự dịch sang Nga, 1965)
*Pnin, 1957
*Pale Fire (Lửa nhạt, 1962)
*Ada, or Ardor (Ada hay Ardor, 1969)
*Transparent Things (Những vật trong suốt, 1972)
*Look at the Harlequins! (Hãy nhìn Harlequins!, 1974)

Thơ:
*Стихи (Thơ, 1916)
*Альманах: Два пути (Hai con đường, 1918)
*Горний путь». Берлин: Грани, 1923.
*Возвращение Чорба: Рассказы и стихи (Chorba trở về: truyện và thơ, 1930)
*Стихотворения 1929—1951(Thơ 1929-1951), 1952
*Poems. Garden City, 1959.
*Poems and Problems, 1971.
*Стихи. 1979

Dịch thuật:
Từ Anh sang Nga:
*Alice's Adventures in Wonderland (Alice ở xứ sở Thần kỳ, 1923)
Từ Nga sang Anh:
*Three Russian Poets: Selections from Pushkin, Lermontov, and Tyutchev(Ba nhà thơ Nga: Pushkin, Lermontov, Tyutchev, 1947)
*A Hero of Our Time, by Mikhail Lermontov (Anh hùng của thời đại chúng ta, truyện của M. Lermontov, 1958)
*The Song of Igor's Campaign (Bài ca về binh đoàn Igor, 1960)
*Eugene Onegin, by Aleksandr Pushkin (Evgeny Onegin của Pushkin, 1964)




EM HÃY GIẢN ĐƠN

Em hãy giản đơn, hãy trong suốt hơn
Anh bây giờ chỉ mình em còn lại
Rừng đã trụi và ngôi nhà đã cháy
Còn mùa xuân đã mờ mịt màn sương.

Nơi ấy mơ màng những cây bạch dương
Chim gõ kiến gõ đều trên chóp ngọn
Anh để mất bạn bè trong trận đánh
Và sau này đã mất cả quê hương.

Trong giấc mơ, với ảo ảnh mơ màng
Ngoài đời thực, anh lầm đường lạc lối
Điều tưởng tượng để mất trong rừng núi
Những bài ca đánh mất giữa đại dương.

Và bây giờ về quá khứ đau buồn
Bên bếp lửa tình em, anh sưởi ấm
Em hãy chân thành, dịu dàng, đằm thắm
Và hãy nhớ rằng chỉ còn lại mình em.
11-1919.


HẠNH PHÚC

Anh biết rằng: đã qua con đường tối tăm, xa cách
Những bầu trời chìm trong xanh thẳm màu xanh
Ngày chìm trong ánh sáng, trong hạnh phúc – con tim
Anh biết rằng anh yêu và sung sướng cùng em dạo bước.

Vâng, anh trao hết mình cho tình em quyền lực
Quyền lực màu xanh bao phủ lấy người anh…
Nhắm mắt vào, nhìn vào đôi mắt đắm đuối của em
Rồi hai đứa cùng ngồi trên cỏ hoa dày đặc.

Hãy ôm anh bằng cánh tay kì diệu của em
Vây quanh em cả bốn phía đều là hoa cỏ
Đang ánh lên một màu sáng thiên thanh.

Hoa cỏ rắc lên màu sáng kim cương
Rắc lên mặt anh những cánh hoa ẩm ướt…
Nụ hôn dài… Em là hạnh phúc… Em của anh…




MẶC TẤT CẢ LẶNG IM VÀ CAY ĐẮNG

Mặc tất cả lặng im và cay đắng
Đời đi vào những giấc mộng thép gang…
ở nơi này chỉ còn anh và em
Tâm hồn ta giữa mùa xuân màu trắng.

Và ta sẽ cùng nhau muôn thuở
Xây cuộc đời – không nhìn thấy nghe em
Anh sẽ tạo nên rừng núi và sông
Còn em sẽ tạo hoa và sao nhé.

Thế kỉ này này cuồng điên và khói lửa
Ta sẽ sống trong thế kỉ khác nghe em –
Trong tươi mát những bài ca của anh
Trong thung lũng của em hoa đua nở.

Chỉ con cháu của ta, theo năm tháng
Yêu thơ mùa xuân mát mẻ của anh
Qua ánh sáng, bóng tối của âm thanh
Và chúng sẽ nhìn thấy em – màu trắng…


CON TIM CỦA TÔI

Con tim của tôi cần những gì đây
Để hạnh phúc? Chỉ cần rất ít ỏi…
Yêu Thượng Đế, yêu muông thú, yêu cây
Và ánh sáng ngày, và đêm đen tối.

Và nơi mép rìa của cõi hư vô
Tôi tự hỏi: ở đâu rồi đau khổ?
Tôi từng hát và cả từng khóc nữa
Thì chỉ nước mắt thán phục thôi mà.
3-1919.


TRONG GIẤC MỘNG GIẢN ĐƠN

Anh rất mừng, trong giấc mộng giản đơn:
Em một mình đứng trên thềm tam cấp
Bằng bàn tay, bình minh em che khuất
Còn bình minh trên gương mặt của em.

Rơi xuống nhẹ nhàng và phủ đầy sương
Tia nắng lên áo quần và bóng lên bục cửa
Còn trong vườn sáng lên từng chiếc lá
Lá mỉm cười như một Thượng Đế con.

Em ngoái nhìn – người trong mộng của anh
Vào sâu thẳm của màu xanh đường phố
Và sự hồi quang xuyên qua của lá
Rung động chập chờn trên cổ áo em.

Tại vì sao, không biết được em ơi
Tại vì sao thức dậy trong nước mắt…
Có ai đó trong tim cười và khóc
Và em trong khung cửa, giữa mặt trời.
8-1919





Semen Yakovlevich Nadson (tiếng Nga: Семён Яковлевич Надсон, 14 tháng 12 năm 1862 – 19 tháng 1 năm 1887) là nhà thơ Nga.

Tiểu sử:

Semen Nadson sinh Sankt-Peterburg trong gia đình một công chức gốc Do Thái. Mồ côi bố mẹ sớm, Semen Nadson được chú nuôi dạy. Năm 1882 học xong trường quân sự, ông phục vụ trong quân đội. Semen Nadson biết làm thơ từ nhỏ, thời gian phục vụ trong quân đội ông tham gia nhóm thơ Pushkin, làm quen với nhiều nhà thơ nổi tiếng thời bấy giờ. Năm 1885 cùng với vợ đi ra nước ngoài chữa bệnh, năm 1886 sống ở ngoại ô Kiev. Năm 1886, theo lời khuyên của bác sĩ, ông chuyển về sống ở Yalta, Crimea.

Tập thơ đầu tiên Стихотворения (1885) của ông gây được tiếng vang mạnh mẽ, năm sau, 1886 được tặng Giải thưởng Pushkin. Sau đó ông viết nhiều trường ca có giá trị và một số tác phẩm văn xuôi. Thơ của Nadson rất nổi tiếng trong giới bạn đọc trẻ tuổi những năm 1880 – 1890. Ông mất ở Yalta năm 25 tuổi, mai táng ở Sankt-Peterburg.

Tác phẩm:
Thơ:
*Стихотворения (1885)
*Томас Мюнцер (1879)
*Заря лениво догорает (1879)
*Осень... (1881–1882)
*В глуши (1884)
*Снова лучнная ночь (1885)
*Весенняя сказка (1882)
Văn xuôi:
*Литературные очерки. 1882–1886 (1887)
*К тихой пристани (in năm 1912)
*Юность Сергея Полянского (in năm 1912)
*Царевна Софья (1880)


Tại vì sao?

Anh có từng yêu như tôi? Bằng những đêm không ngủ
Có từng đau khổ vì nàng bằng một nỗi buồn thương?
Có cầu nguyện cho nàng bằng nước mắt điên cuồng
Bằng sức mạnh của tình yêu thánh thiện và cao cả?

Kể từ cái ngày nàng về ngủ yên trong đất mẹ
Khi anh nhìn thấy nàng trong lần cuối cùng
Kể từ ngày ấy, có tan nát cuộc đời anh
Và ánh sáng cuối cùng, với anh, đã không còn nữa?

Không!.. anh vẫn như mọi khi, vẫn ước mong, vẫn sống
Kiêu hãnh đi về phía trước, quên hết chuyện ngày qua
Và sau đó, có thể, anh ra vẻ cười chê
Đau khổ và buồn thương, cơn đau đã lặng.

Anh là đứa trẻ của tình, của niềm hạnh phúc
Anh không thể hiểu tâm hồn thánh thiện của nàng
Anh không thể hiểu số kiếp và vẻ dịu dàng
Như tôi hiểu ra, tôi đau đớn và mỏi mệt!

Tại vì sao trong giờ phút chia ly, vĩnh biệt
Anh có thể một mình trong nỗi buồn câm
Đốt lên ngọn lửa của nụ hôn cuối cùng
Hôn bàn tay bất động của nàng như cẩm thạch?

Tại vì sao khi người ta hạ nàng xuống huyệt
Dàn đồng ca hát về niềm hạnh phúc sau này
Thì anh lại kết hoa cho nàng lên quan tài
Còn tôi, như người lạ, chỉ nhìn trong khoảng cách?

Nối lo lắng điên cuồng, giá mà anh biết được
Và nỗi đau của lòng tôi đang nổi bão giông
Thì anh đã tránh ra nhường cho tôi con đường
Để tôi đến thật gần mộ người yêu dấu nhất!
1897




Tôi muốn chết trên đôi cánh mê say

Tôi muốn chết trên đôi cánh mê say
Trong giấc ngủ lười, gợi điều mơ ước
Không hối hận, không nghĩ suy khó nhọc
Không lệ nhoà vĩnh biệt với đất đai.

Tôi muốn chết giữa mùa xuân ngát hương
Giữa vườn hoang, trong một ngày tươi mát
Để những cây gia màu đen mơ màng
Và tử đinh hương nở hoa xào xạc.

Để gần bên tiếng xao động bí huyền
Của dòng suối, vẻ lặng yên thức giấc
Trời xanh bằng vẻ im lặng trang nghiêm
Về cõi vĩnh hằng nói cho tôi biết.

Để tôi chết, không nguyện cầu, không khóc
Mà ngủ mê, và để tôi mơ màng…
Rằng tôi đang bơi … rằng con sóng lặng câm
Lặng lẽ chuyển tôi vào con sóng khác…
1880


Tôi mơ thấy cái chết trước mặt tôi

Tôi mơ thấy cái chết trước mặt tôi
Trong khói trầm, khoác áo bào tế lễ
Trong hào quang, với nụ cười rất trẻ
Và với lời chào đầy những buồn đau.
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2007, 09:55 AM   #33
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Nikolay Alexeyevich Nekrasov (tiếng Nga: Никола́й Алексе́евич Некра́сов, 10 /12 /1821 – 8 /1 /1878) – nhà thơ Nga, một trong những nhà thơ lớn nhất của thơ ca Nga thế kỉ XIX.

Tiểu sử:
Nikolay Alexeyevich Nekrasov sinh ở tỉnh Yaroslavl trong một gia đình có 13 đứa con. Thời nhỏ thường sống ở trang trại bên bờ sông Volga, gần gũi với cuộc sống của nông dân. Từ năm 1832 – 1837 học ở trường Gymnazy Yaroslavl. Năm 1838 Nekrasov đến Peterburg và được nhận làm sinh viên dự thính của khoa triết, Đại học Saint Peterburg. Bắt đầu đăng thơ trên bào từ năm 1838. Năm 1840 in tập thơ đầu tiên Мечты и звуки (Những ước mơ và tiếng vang) không thành công. Nhà phê bình Belinsky khuyên Nekrasov viết về những dề tài xã hội. Những năm 1845 – 1846 gặt hái những thành công đầu tiên với những bài thơ nổi tiếng như В дороге (Trên đường), Тройка (Troyka), Родина (Tổ quốc) – nhà thơ đứng về phía nông dân, tố cáo địa chủ cường hào. Năm 1846 Nekrasov trở thành biên tập của tạp chí Sovremennik (Người đương thời) cho đến khi tạp chí bị đóng cửa vào năm 1866.
Những năm 50-60 (thế kỉ XIX), Nekrasov nổi tiếng là một nhà thơ của nhân dân, nhạy cảm với nỗi đau của con người và sự bất công trong xã hội. Những trường ca: Мороз, Красный нос (Giá băng, mũi đỏ, 1863), Кому на Руси жить хорошо (Ai sống sung sướng ở nước Nga, 1863-1877) đã vẽ lên bức tranh nhiều mặt của đời sống Nga mà trước hết là những người nông dân. Nhà thơ mơ ước về cuộc sống hạnh phúc cho họ. Các nhà phê bình gọi thơ và trường ca của Nekrasov là bộ bách khoa toàn thư về đời sống Nga những năm 50-70 của thế kỷ 19. Nikolay Nekrasov được coi là người kế tục truyền thống thơ ca của Pushkin, Lermontov và là người chuẩn bị sự phát triển tiếp theo của thơ ca Nga. Ông mất ở Peterburg.

Tác phẩm:
*Стихотворения (Thơ, 1856)
*Крестьянские дети (Những đứa con nông dân, 1861), trường ca
*Mороз, Красный нос (Giá băng, mũi đỏ, 1863), trường ca
*Кому на Руси жить хорошо (Ai sống sung sướng ở nước Nga, 1863-1877), trường ca
*Дедушка (Cô gái, 1870), trường ca
*Русские женщины (Những người phụ nữ Nga, 1872-73), trường ca
*Современники" (1875-1876), thơ châm biếm
*Колыбельная песня (Bài hát ru, 1871), thơ châm biếm
*Современная ода (Bài oda thời hiện đại, 1873), thơ châm biếm
*Недавнее время (Thời gian gần đây, 1871), thơ châm biếm


THÔNG LỆ TÌNH YÊU

Tôi và em là những người tính nóng
Rằng phút giây là có thể bùng lên
Ta muốn làm vơi đi niềm xúc động
Bằng những lời gay gắt, thiếu khôn ngoan

Thì cứ nói, khi mà em giận dữ
Những gì em đau đớn, bồi hồi
Em cứ giận, chẳng cần chi phải giữ
Thấy nhẹ lòng nhưng là chán đấy thôi.

Nếu thông lệ tình yêu không tránh khỏi
Thì hạnh phúc ta nhận lấy ít nhiều
Sau cãi vã là lặng yên, êm ái
Là sự trở về của số mệnh, tình yêu...
1851.




NÀNG THƠ ĐAU KHỔ

Thôi im đi, Nàng Thơ đau khổ
Chẳng muốn làm phiền nữa giấc mơ xinh
Tôi và em đã từng nguyền rủa
Giờ lặng im để tôi chết một mình

.Khóc làm chi những buồn đau mất mát?
Dẫu biết rằng khóc cho nhẹ lòng thêm
Tôi như cánh cửa tù rên cót két
Đã chán rồi tiếng nức nở con tim.

Thế là hết! Giờ gió mưa u ám
Đường tôi đi ảm đạm chẳng vô tình
Trên đầu tôi giờ chẳng còn hửng sáng
Tia nắng hồng ấm áp giữa tâm linh.

Tia nắng thần tiên của tình yêu hi vọng
Tôi vẫn gọi trong mơ và cả trong đời
Trong lao động, đấu tranh, khi bên bờ vực thẳm
Vẫn gọi tên nhưng nay đã thôi rồi!

Cái vực thẳm mà tôi không muốn biết
Nơi mà em muốn thắp sáng đôi điều
Con tim khi đã không còn thấy ghét
Có nghĩa là cũng đã chẳng còn yêu.
1855.


XIN LỖi

Xin lỗi nhé! Quên đi ngày sụp đổ
Quên hết buồn đau, thất vọng, ưu phiền
Quên đi nước mắt, quên ngày bão tố
Quên oán thù và giận dỗi, hờn ghen.

Nhưng trong ngày, khi tình yêu rực rỡ
Ôm vào lòng tình ve vuốt mơn man
Ta sảng khoái biết bao và hãy nhớ
Với cuộc đời đừng quên nói: cám ơn!
1856.


THỜI GIAN TRÔI

Thời gian trôi - sức lực giờ đã kiệt
Máu lạnh tanh và trí tuệ bỗng lười
Tổ quốc ơi! Tôi đi tìm cái chết
Chẳng kịp đợi tự do về với dân Người!

Nhưng dù chết, tôi vẫn mong được biết
Rằng Người đang đi đúng một con đường
Người nông dân khi gieo mùa sẽ biết
Rằng ngày mai được nhìn thấy mùa màng.

Để ngọn gió của đồng quê yêu dấu
Mang đến mọi nhà những tiếng reo vui
Trong lời gió chẳng còn nghe nung nấu
Những giọt nước mắt và máu con người.
1861.


TÌNH MẸ

Vĩ đại thay! Sau từng cánh cửa
Dù đi xa hay ở rất gần
Ta vẫn nghe tiếng con gọi mẹ
Mẹ dù xa nhưng ngóng về con.

Vĩ đại thay! Muôn đời tình Mẹ
Trong tim ta trân trọng giữ gìn
Ta yêu chị, yêu cha, yêu vợ
Nhưng khổ đau ta nhớ Mẹ hiền!
1877.



EM BAO GIỜ CŨNG XINH ĐẸP TUYỆT TRẦN

Em bao giờ cũng xinh đẹp tuyệt trần
Nhưng khi anh buồn rầu và cau có
Thì em hào hứng, thì em rộn rã
Em vui tươi và em nhạo cười anh.

Em cười vang mà nghe thật dễ thương
Như kẻ thù của anh em nhạo báng
Đầu gục xuống trông vô cùng sầu thảm
Em nhạo cười anh láu lỉnh, thật buồn.

Em ngoan hiền, ít âu yếm với anh
Nhưng nụ hôn của em luôn cháy bỏng
Đôi mắt của em dịu dàng, đằm thắm
Đang vuốt ve và mơn trớn nhìn anh.

Rằng khổ đau trong hiện tại vì em
Anh dẽ dàng và khôn ngoan gắng đợi
Và phía trước – dù chỉ là biển tối
Bằng đôi mắt không sợ hãi anh nhìn…
1847.


ANH KHÔNG YÊU ĐIỀU MAI MỈA CỦA EM

Anh không yêu điều mai mỉa của em
Hãy cứ để nó chết vì đã sống
Hai chúng mình từng yêu nhau cháy bỏng
Chút tình yêu còn lại hãy giữ gìn
Ta sớm đắm chìm trong đó mà em!

Đến bây giờ vẫn đằm thắm, ngại ngùng
Buổi hẹn hò em vẫn còn tha thiết
Đến bây giờ trong anh còn mãnh liệt
Những ước mơ và lo lắng, giận hờn
Thì chớ vội vàng kết thúc nghe em!

Nhưng dù sao đoạn kết cũng đã gần
Niềm khát khao cuối cùng còn cháy bỏng
Nhưng trong tim nỗi buồn và lạnh cóng…
Như mùa thu sông nổi sóng ầm ầm
Nhưng con sóng này càng lạnh lẽo hơn…
1850.




EM ĐỪNG NÓI

Em đừng nói rằng đã giết tuổi thanh xuân
Lòng ghen tỵ của anh em làm khổ
Em đừng nói!.. anh đã gần bên mộ
Còn em tươi hơn hoa giữa mùa xuân!

Nhớ lại ngày, khi em đã yêu anh
Em đã nghe lời rằng: yêu em đó
Đừng nguyền rủa! anh đã gần bên mộ
Cái chết anh mua, anh sẽ cố hết mình!

Em đừng nói rằng ngày tháng cô liêu
Người cai ngục đau buồn em đừng gọi:
Trước mặt anh – ngôi mộ đầy bóng tối
Còn trước mặt em – tràn ngập tình yêu!

Anh biết rằng giờ đã chẳng yêu nhau
Đợi và thương chỉ làm em chán ngấy…
Ngôi mộ đã gần, anh xin em đợi đấy
Cho số phận anh kết thúc cái mở đầu!
1855.




Aleksandr Ivanovich Odoyevsky (tiếng Nga: Александр Иванович Одоевский, 26 tháng 11 năm 1802 – 15 tháng 8 năm 1839) là nhà thơ Nga.

Tiểu sử:
Aleksandr Odoyevsky sinh ra trong một gia đình quí tộc ở Sankt-Peterburg. Từ nhỏ đã có được sự giáo dục tốt của gia đình, lớn lên phục vụ trong đội kỵ binh của Sa hoàng. Vì tham gia vào sự kiện ngày 14 tháng 12 năm 1825 của những người khởi nghĩa tháng Chạp bị đày đi vùng Siberia. Năm 1837 chuyển về vùng Kapkage, gặp các nhà thơ Lermontov và Ogarev.

Những bài thơ của ông viết trước năm 1825 đều bị thất lạc. Từ sau năm 1825 ông viết được nhiều bài thơ trữ tình nổi tiếng. Thơ của ông mang một vẻ hoài cảm với những tình cảm chân thành và những suy ngẫm triết lý, được nhà thơ Lermontov phát triển sau đó. Sinh thời ông chỉ in được một vở kịch ở tạp chí Современник (Người đương thời) và một tập thơ, chỉ đến năm 1883 tuyển tập tác phẩm cùng với tiểu sử của ông mới được xuất bản.

Tác phẩm:
*Полн. собр. стихотворений, СПБ, 1883
*Полн. собр. стихотворений и писем, М. - Л., 1934
*Полн. собр. стихотворений, Л., 1958


Giấc ngủ không tỉnh giấc

Còn trước mặt tôi hình bóng của em
Với vẻ dịu dàng và đôi mắt sáng
Hình bóng rơi vào tâm hồn sâu thẳm
Hình bóng làm cho phiền muộn cõi lòng.

Tôi nhớ về một cuộc chia ly buồn
Em với tôi, như với người bạn cũ
Em nói với tôi: “Đừng quên anh nhé!”
Và bắt tay tôi trước lúc lên đường.

Còn tôi chỉ gặp em trong phút chốc
Rồi chia tay em mãi đến muôn đời!
Cuộc đời như giấc ngủ - không lẽ được
Gặp em là mơ ước của lòng tôi?

Nhưng nếu như chỉ còn là giấc mộng
Đùa với tâm hồn tội nghiệp của tôi
Ai cho tôi giấc ngủ mà không tỉnh
Cái chết và hình bóng của em tôi!


Lời chúc rượu

Cả cuộc đời như tiếng cười giòn tan
Tình cảm ấm nồng, tâm hồn không sa đoạ
Tôi yêu tất cả, tôi uống chúc tất cả!
Nói có trời, luôn thiểu rượu vang!

Tôi uống ít hơn, nhưng mà tôi
Chẳng bao giờ trộn rượu vang với nước…
Tôi yêu một và uống chúc chỉ một
Tôi uống cho cạn chén của cuộc đời!


Chim họa mi và hoa hồng

- Tại vì sao hoa cúi xuống thật buồn
Tại vì sao hoa không nhìn ta vậy?
Ta từ lâu vẫn hót ca ngợi em
Còn em có nghe lời ta không đấy?

- Nghe để làm gì? Những lời to tát
Người đi hót về tình yêu của mình
Còn em buồn: người đâu có yêu em
Và người chẳng hót cho em chỉ một.

- Nhưng mà hoa như cô gái châu Âu
Tâm hồn của mình em đừng vung phí:
Cho ta chỉ một, tâm hồn hãy trao
Thì khi đó ta hót trong lặng lẽ!
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2007, 10:07 AM   #34
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Bulat Shalvovich Okudzhava (tiếng Nga: Булат Шалвович Окуджава, 9 tháng 5 năm 1924 – 12 tháng 5 năm 1997) là nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ Nga – Xô Viết.

Tiểu sử:
Bulat Okudzhava sinh ở Moskva . Bố là Shalva Stepanovich Okudzhava, người Gruzia, mẹ là Nalbandyan Stepanovna Ashkhen, người Armenia. Gia đình sống ở phố Arbat, một đường phố cổ nổi tiếng ở Moskva. Sau khi sinh Bulat bố chuyển công tác xuống vùng Kapkage, mẹ vẫn ở Moskva, làm việc trong cơ quan đảng. Bố được đề bạt chức Bí thư thành ủy Tbilisi nhưng do xích mích với một cán bộ cao cấp nên xin chuyển công tác về vùng Ural làm cán bộ đảng ở một nhà máy chế tạo động cơ. Thời kỳ này cả gia đình chuyển về vùng Ural. Năm 1937 bố mẹ của Bulat Shalvovich Okudzhava bị bắt, bố bị xử bắn, mẹ bị giam trong trại cải tạo. Năm 1940 Bulat Shalvovich Okudzhava đi về Tbilisi ở với người bà con. Tại đây, Bulat học xong phổ thông vào làm thợ tiện ở nhà máy. Năm 1942 tình nguyện nhập ngũ, trở thành lính của một đơn vị rada. Bulat Shalvovich Okudzhava không trực tiếp chiến đấu nhưng một lần bị thương ở Mozdok. Thời kỳ này ông bắt đầu sáng tác một số bài hát.

Sau chiến tranh Bulat Shalvovich Okudzhava vào học Đại học Tbilisi. Năm 1950 tốt nghiệp, đi dạy học – đầu tiên dạy ở trường làng, sau lên thành phố Kaluga. Năm 1955 mẹ được trả tự do, Bulat Okudzhava vào Đảng cộng sản. Từ năm 1961 ông thôi nghề dạy học và chỉ tập trung vào sáng tác. Năm 1962 gia nhập Hội Nhà văn Liên Xô. Năm 1970 ông viết nhạc và bài hát cho bộ phim “Ga Belarussky”, trở thành một nhạc sĩ, nhà thơ nổi tiếng ở Liên Xô. Nhạc của Bulat Okudzhava được phổ biến bằng đĩa và băng, rất nổi tiếng trong cộng đồng Nga trong nước cũng như ở các nước trên thế giới. Ngoài sáng tác nhạc, ông còn viết truyện và làm thơ. Năm 1989 được bầu làm thành viên Hội Văn bút Nga. Từ năm 1992 là thành viên của ủy ban ân xá thuộc Tổng thống Nga. Từ năm 1994 là thành viên Ủy ban Giải thưởng Nhà nước Liên bang Nga. Ngoài ra, ông còn là thành viên hội đồng của nhiều tờ báo ở Moskva. Những năm 1990 ông thường xuyên sống ở Đức. Năm 1995 ông tổ chức buổi biểu diễn ở UNESCO, Paris. Ông mất ngày 12 tháng7 năm 1997 ở Paris.

Bulat Shalvovich Okudzhava được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1991. Năm 1994 ông được trao giải Booker cho tiểu thuyết Nhà hát phế bỏ. Tượng của ông được dựng ở ngôi nhà số 43, phố Arbat, nơi ông sống khi còn nhỏ.

Tác phẩm:
Thơ và văn xuôi:
*Лирика (Калуга, 1956),
*Март великодушный (1967),
*Арбат, мой Арбат (1976),
*Стихотворения (1984), «Избранное» (1989),
*Посвящается вам (1988),
*Милости судьбы (1993),
*Зал ожидания (Нижний Новгород, 1996), «Чаепитие на Арбате» (1996),
*Булат Окуджава. 20 песенок для голоса и гитары.- Краков: Польское муз. изд-во, 1970.- 64 с.
*Булат Окуджава. 65 песен (Музыкальная запись, редакция, составление В.Фрумкин). Ann Arbor, Michigan: Ardis, т.1 1980, т.2 1986.
*Песни Булата Окуджавы. Мелодии и тексты. Составитель и автор вступительной статьи Л. Шилов, музыкальный материал записан А.Колмановским с участием автора).- М.: Музыка, 1989.- 224 с.
*Бедный Авросимов» (1969, в последующих изданиях — «Глоток свободы»),
*Похождения Шипова, или Старинный водевиль»,
*Путешествие дилетантов» (1976—78),
*Свидание с Бонапартом» (1983),
*Упразднённый театр» (1992).
Kịch bản phim:
*Застава Ильича («Мне двадцать лет»), Киностудия им. М.Горького, 1963
*Ключ без права передачи, Ленфильм, 1977
*Законный брак, Мосфильм, 1985
*Храни меня, мой талисман, Киностудия им. А. П. Довженко, 1986
*Я помню чудное мгновенье (Ленфильм);
*Мои современники, Ленфильм, 1984;
*Два часа с бардами («Барды»), Мосфильм, 1988;
*И не забудь про меня, Российское телевидение, 1992.


Đừng lang thang, đừng quá chén

Đừng lang thang, đừng quá chén
Bên bàn của bảy biển
Mà hãy hát lên, hát lên
Khen người phụ nữ của mình!

Hãy nhìn vào mắt nàng
Như vào sự cứu rỗi của mình
Và hãy so sánh, hãy so sánh
Với bờ bến thật gần.

Ta trần tục hơn cả người trần
Quỉ tha ma bắt
Những chuyện về thánh thần!
Chỉ đơn giản
Ta mang trên đôi cánh
Những gì người ta mang trên tay mình.
Chỉ đơn giản
Cần thật tin
Những ngọn đèn biển màu xanh
Và khi đó một bến bờ không đợi
Từ trong sương mù sẽ đến với anh.


Bóng tối ở đây đang trùm xuống

Bóng tối ở đây đang trùm xuống
Và tĩnh lặng đến tận cùng…
Thưa quí bà cao thượng
Chẳng lẽ là – em đến với anh?

Điện ở đây mù mờ
Nước từ trần nhà rỏ xuống
Thưa quí bà cao thượng
Em nghĩ sao mà lại đến đây?

Như đám cháy – em đi đến đây
Khói mịt mù và khó thở
Mời em hãy bước vào đây
Sao lại đứng ngoài bục cửa?

Em từ đâu? Em là ai thế?
Tôi buồn cười lắm phải không…
Chỉ đơn giản là em nhầm cánh cửa
Với đường, thành phố, và một trăm năm.


Theo sông nào con tàu ngươi bơi đi

Theo sông nào con tàu ngươi bơi đi
Đến ngày cuối cùng, từ sức cuối tận?
Trong ngày cuối mà ta sống đến
Người ta hỏi rằng: sống để làm chi?

Còn ta sẽ đứng trước con tàu ấy
Đầu trong lửa và linh hồn trong khói
Tổ quốc ta – ngôi nhà cuối của ta
Lầm lỗi của người – ta xin nhận lấy.

Giữa rạ và hoa, chiến tranh và lệ
Ta mang theo mình lầm lỗi của ngươi
Có thể đời ta đã rất buồn cười
Nhưng cuộc đời ta cần cho ai đó.




Sophia Yakovlevna Parnok (tiếng Nga: София Яковлевна Парно́к, 12 tháng 8 năm 1885 – 26 tháng 8 năm 1933) là nữ nhà thơ, dịch giả Nga.

Tiểu sử:
Sophia Parnok sinh ở Taganrog trong một gia đình Do Thái giàu có, cả em trai và em gái đều là những nhà thơ, dịch giả nổi tiếng. Bố là chủ nhà thuốc, mẹ là bác sĩ nhưng mất sau khi sinh em trai và em gái (sinh đôi). Sau khi học xong trường Empress Maria Taganrog Girls Gymnasium, Sophia Parnok sang Thuỵ Sĩ, học ở Nhạc viện Geneva. Năm 1904 trở về Nga và bắt đầu in thơ từ năm 1906. Từ năm 1913 cộng tác với tạp chí Северные записки, in những bài phê bình và thơ, văn xuôi dịch từ tiếng Pháp của Charles Baudelaire, Romain Rolland, Marcel Proust, Henri Barbusse và một số nhà thơ khác Năm 1914 kết bạn với nữ thi sĩ Marina Tsvetaeva, tập thơ Подруга của Tsvetaeva là tập thơ viết tặng Sophia Parnok. Năm 1916 in tập thơ đầu tiên Стихотворения. Năm 1917 Sophia Parnok chuyển về sống ở vùng Crimea. Đầu những năm 1920 quay về Moskva tiếp tục làm thơ và dịch thuật.

Sophia Parnok không tham gia một trường phái thơ nào, không ủng hộ sự đổi mới hay cách tân trong văn chương mà chỉ trung thành với trường phái cổ điển. Bà mất ở ngoại ô Moskva năm 1933.

Tác phẩm:
*"Стихотворения" (1916)
*"Розы Пиерии" (1922)
*"Лоза" (1923)
*"Музыка" (1926)
*"Вполголоса" (1928)

*Бургин Д.Л. София Парнок. Жизнь и творчество русской Сафо. — СПб.: «ИНАПРЕСС», 1999. — 512 с.
*София Парнок. Собрание стихотворений // Полякова С. В. [Вступительная статья к сборнику]. — СПб.: «ИНАПРЕСС», 1998. — Сс. 440—466.
*Строфы века. Антология русской поэзии / Сост. Е. Евтушенко. — Минск; М.: «Полифакт», 1995.
*Burgin D.L. Sophia Parnok. The Life and Work of Russia’s Sappho. — New York: NY University Press, 1994.


Trong giờ giã biệt

Vâng, em một mình. Trong giờ giã biệt
Anh trong lòng báo trước vẻ mồ côi.
Như ngày đầu tiên sinh, chỉ một
Giữa cõi trần gian, chỉ một con người.

Nhưng điều gì trong cơn giận của anh
Thì không phải với mình em, chỉ một
Có phải đã kể cho hai chúng mình
Sự thừa nhận của người lòng tinh khiết.

Không còn gì tốt đẹp, cao hơn hết
Ai một lần đau, dù chỉ một lần
Sẽ không run, đọc câu thơ Tyutchev:
“Người khác làm sao mà hiểu được anh?”



Tôi buồn như con thú

Tôi buồn như con thú
Buồn bã từng hồi chuông
Tim như chuông gọi cửa
Ai bạo dạn nhấn chuông.

Chuông trống trải hãy rung
Gọi nỗi buồn loảng xoảng…
Vào hố rác, không thương
Vứt đời, khi còn sống.

Vĩnh biệt, Nàng thơ Bạc
Ngọn lửa của ngày tàn
Mi đã từng là nhạc
Cho cõi lòng đau thương!

Không cúi xuống đầu giường
Thổn thức không nắm bắt
Và cầu khẩn: không tình
Không yêu, mà chẳng ghét.


Có nên nói với anh

Có nên nói với anh rằng: em yêu anh?
Không, con tim anh vô cùng tỉnh táo
Chẳng lẽ làm cho thỏa mãn con tim
Bằng câu nói của tình rất liến láu?

Không phải lời nói – mà điều trước đó
Là sự im lặng trong từng phút giây
Anh hãy đày đọa cho mệt hai người
Và bằng cơn khát hãy làm cho khổ.

Than ôi, như mọi lời “vâng ạ”
Mọi lời “em yêu anh” đều ẻo lả
Bạn tuyệt vời của em ơi, khi nào
Em nói ra, cái điều em có thể.




Nhà thơ, nhà văn Nga Boris Leonidovich Pasternak sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ tài năng gốc Do Thái, theo học hội họa, âm nhạc triết học và lịch sử rồi quyết định theo đuổi sự nghiệp văn chương, năm 1914 in tập thơ đầu tiên Người anh em sinh đôi trong mây đen. Những sáng tác của nhà thơ ngày càng được công chúng đánh giá cao, đến những năm 1930 ông được coi như một nhà thơ Xô Viết hàng đầu. Năm 1922, ông cho ra đời tác phẩm văn xuôi đầu tiên Thời thơ ấu của Lyuvers. Năm sau, B. Pasternak kết hôn với nữ họa sĩ Evghenia Muratova và in tập thơ Những chủ đề và biến tấu được đánh giá là một trong những đỉnh cao của thơ ông. Năm 1931, tự truyện Chứng chỉ hộ thân ra đời, bộc lộ rõ quan điểm của B. Pasternak với nghệ thuật, thiên nhiên và cuộc sống. Là người biết nhiều ngoại ngữ, những năm không có việc làm ông đã làm nghề dịch để kiếm sống - ông đã dịch thơ cổ điển Anh, Pháp, Đức, Gruzia, đặc biệt các bản dịch bi kịch Shakespeare được coi là hay nhất trong tiếng Nga. Từ năm 1945 đến 1955, B. Pasternak sáng tác cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của ông, Bác sĩ Zhivago, nhưng không được in ở Liên Xô, đến năm 1957 tác phẩm này được xuất bản ở Italia. Cuối năm sau, cuốn sách được dịch ra 18 thứ tiếng. Cũng trong năm này, B. Pasternak là người Nga thứ hai được trao giải Nobel Văn học vì những thành tựu lớn lao ông đã đạt được trong nền thơ trữ tình hiện đại, cũng như vì công lao tiếp nối các truyền thống của nền tiểu thuyết sử thi Nga vĩ đại, mà nổi bật nhất là Bác sĩ Zhivago - một trong những cuốn tiểu thuyết Nga hiện đại được đọc nhiều nhất ở nước ngoài.Nhưng do những áp lực chính trị, B. Pasternak buộc phải từ chối nhận giải (30 năm sau con trai ông mới nhận thay ông tấm bằng cao quý đó).

* Tác phẩm:
- Những bài thơ đầu tay, in trong quyển Thơ trữ tình (Лирика, 1913).
- Người anh em sinh đôi trong mây đen (Близнец в тучах, 1914), thơ.
- Phía trên rào cản (Поверх барьеров, 1917), thơ.
- Cuộc sống là chị tôi (Сестра моя жизнь, 1922), thơ.
- Thời thơ ấu của Lyuvers Детство Люверс (, 1922), truyện.
- Những chủ đề và biến tấu (Темы и вариации, 1923), thơ.
- Bệnh cao sang (Высокая болезнь, 1924), trường ca.
- Trung úy Smidt (Лейтенант Шмидт, 1926), trường ca.
- Đường trên không (Воздушные пути, 1924), truyện.
- Chứng chỉ hộ thân (Охранная грамота, 1931), tự truyện.
- Năm chín trăm lẻ năm (Девятьсот пятый год, 1927), trường ca.
- Truyện vừa (Повесть, 1929), truyện.
- Tái sinh (Второе рождение, 1932), tập thơ.
- Trên những chuyến tàu sớm (На ранних поездках, 1943), thơ.
- Khoảng bao la trái đất (Земной простор, 1945), thơ.
- Bác sĩ Zhivago (Доктор Живаго, 1957), tiểu thuyết.
- Con người và cảnh ngộ (Люди и положения, 1957), tự truyện.
- Bút kí tiểu sử (Биографический очерк, 1959).




MÙA THU

Anh đã chia tay với những người nhà
Tất cả người thân từ lâu không hợp
Với một nỗi cô đơn như mọi khi
Trong thiên nhiên và trong lòng dâng ngập.

Giờ ngồi đây cùng em trong lều gác
Giữa hoang vu, trong rừng vắng không người.
Những lối mòn, như lời trong bài hát
Cây cỏ chỉ còn một nửa mà thôi.

Và giờ đây với một vẻ u sầu
Nhìn vào hai ta những bức tường gỗ.
Anh và em chẳng có gì cách trở
Hai đứa chân thành sẽ chết cùng nhau.

Ta ngồi canh một, đứng dậy canh ba
Em với bức thêu còn anh với sách
Đến gần sáng sẽ không hề nhận ra
Ta thôi hôn nhau lúc nào không biết.

Hãy ngang tàng và lộng lẫy xa hoa
Rắc đầy lên hỡi lá rừng xào xạc
Chén khổ tận cay đắng ngày hôm qua
Nỗi buồn hôm nay tràn trề hãy rót.

Nỗi lưu luyến, niềm say mê, vẻ đẹp!
Tan biến vào trong ầm ĩ mùa thu!
Em hãy vùi trong mùa thu xào xạc!
Và sẽ ngất ngây hay sẽ điên rồ!

Và em hãy vứt quần áo mình ra
Như rừng nhỏ trong mùa thu trút lá
Khi vào vòng tay của anh em ngã
Trong áo choàng với nét vẽ nhung tơ.

Em là hạnh phúc của bước thương đau
Khi cuộc sống chán chường hơn bệnh tật
Còn can đảm là ngọn nguồn cái đẹp
Chính điều này xích ta lại gần nhau.
(Xem thêm: Các nhà thơ đoạt giải Nobel)
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2007, 10:19 AM   #35
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Aleksei Nicolayevich Plescheev (tiếng Nga: Алексе́й Никола́евич Плеще́ев, 22 tháng 11 năm 1825 – 26 tháng 9 năm 1893) là nhà văn, nhà thơ Nga.

Tiểu sử:
Aleksei Plescheev sinh ở Kostroma trong một gia đình quí tộc đã sa sút, dòng họ có nhiều nhà văn. Plescheev học ở trường quân đội nhưng do sức khoẻ yếu phải nghỉ, sau đó vào học khoa lịch sử và ngôn ngữ Đại học Sankt-Peterburg. Thời kỳ này ông làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở thủ đô như Dostoevsky, Maykov, Grygorovich, Goncharov… Từ năm 1844 bắt đầu in thơ trên các tạp chí Современник, Отечественные записки. Năm 1849 ông bị đày về miền Ural 8 năm vì tội chống đối Nga hoàng Nikolai I. Những năm tù đày ông làm quen với Taras Shevchenko và nhiều người khởi nghĩa của Ba Lan. Năm 1857 ông được trả tự do, trở về Sankt-Peterburg làm quen với Nekrsov, Chernyshevsky, Dobrolyubov, là những người đánh giá cao tài thơ của ông. Năm 1860 ông tham gia tạp chí Московский вестник. Những năm 1870 – 1880 ông dịch nhiều thơ từ tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh ra tiếng Nga. Năm 1872 ông làm trưởng ban thơ của tạp chí Отечественные записки. Năm 1884, tạp chí này bị đóng cửa, ông chuyển sang tạp chí Северный вестник và làm biên tập ở đây đến năm 1890.

Những năm cuối đời ông được thừa hưởng một tài sản lớn từ một người bà con, cho phép ông có điều kiện đi ra nước ngoài chữa bệnh. Ông mất ở Paris năm 1893, mai táng ở Moskva. Tuyển tập thơ của ông in năm 1887, tái bản lần thứ hai có bổ sung vào năm 1894 (một năm sau khi mất).




Desdemona*
(Tặng Viardot-Garcia)**

1

Khi anh lắng nghe giọng của em
Desdemona, giọng em ngời ánh bạc
Thì một vẻ hân hoan tinh khiết
Cháy lên, tràn ngập cõi lòng anh.

Và anh nói rằng: những âm thanh
Từ bầu trời xanh kia rót xuống
Cuộc đời này đắng cay, khổ tận
Phần thưởng cho người thịt mắt trần.

Rồi anh trong phút giây diệu huyền
Quên con người, quên cõi trần gian
Chỉ biết lắng nghe và thán phục
Khát khao uống từng âm thanh!

Dù em nức nở hay nguyện cầu
Hay hát lên bài hát tình yêu
Thì con tim của anh chết lịm
Trong ngực này để lắng nghe theo.

Em từng hiểu vô cùng sâu sắc
Sáng tạo của William Shakespeare
Và những đau khổ của Desdemona
Em thể hiện vô cùng chân thật.

2

Giữa những tiếng vỗ tay náo loạn
Và giáo mác khua rộn cả khán phòng
Chỉ anh ngồi một mình trong im lặng
Không hề lộ vẻ hân hoan.

Anh không vứt hoa lên cho em
Không tặng em một vòng hoa lộng lẫy
Nhưng một bài thơ từ tấm lòng mình
Là vòng hoa cho em, em nhận lấy!

Hãy nhận lấy… dù không sáng bừng
Lên vẻ đẹp của búp hoa non
Nhưng mặt trời vẫn làm cho hồi tỉnh
Cả thỉ xa và những cánh hoa hồng!
________
*Desdemona: vợ của Othello trong một bi kịch nổi tiếng của William Shakespeare.
**Viardot-Garcia (1821-1910): nữ ca sĩ, nhạc sĩ người Pháp.




Notturno

Nghe âm thanh quen thuộc
Vang trong đêm dịu êm
Những khổ đau ngày trước
Lại thức dậy trong hồn.

Nghe âm thanh ngày trước
Như ngày xưa, ngóng trông
Khát khao nhìn ánh mắt
Và đôi tay dạo đàn.

Nghe âm thanh ngày trước
Con tim thắt trong ngực
Nhớ lại phút chia ly
Tôi nghe và thổn thức.

Nghe âm thanh ngày trước
Tôi thấy trước mắt mình
Đôi tay lướt trên đàn
Như trăng ngời ánh bạc.




Yakov Petrovich Polonsky (tiếng Nga: Яков Петрович Полонский, 18 tháng 12 năm 1819 – 30 tháng 10 năm 1898) là nhà văn, nhà thơ Nga.

Tiểu sử:
Yakov Polonsky sinh ở Ryazan trong một gia đình có gốc gác quí tộc đã sa sút. Năm 1838 học xong trường gymnazy, ông vào học khoa luật Đại học Moskva. Thời kỳ sinh viên làm quen với các nhà thơ A. Grigoryev. A. Fet, là những người đánh giá cao tài thơ của Polonsky. Năm 1840 in những bài thơ đầu tiên trên tạp chí sinh viên Подземные ключи, tạp chí Отечественные записки và tạp chí Москвитянин danh tiếng thời đó. Năm 1844 in tập thơ đầu tiên Гаммы chịu ảnh hưởng thơ của Mikhail Lermontov.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Yakov Polonsky đi về thành phố Odessa, in tập thơ Стихотворения 1845 год, trở thành một nhân vật nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ của thành phố, mặc dù tập thơ này không được các nhà phê bình đánh giá cao. Cũng trong thời gian này ông bắt đầu có ý định viết tiểu thuyết Дешевый город (1879). Năm 1846 ông chuyển về thành phố Tiflis, làm biên tập của báo Закавказский вестник, năm 1849 in tập thơ Сазандар. Năm 1851 ông trở về Sankt-Peterburg tiếp tục hoạt động văn học. Năm 1857 ông sang Ý học hội họa, trở về Sankt-Peterburg làm biên tập của tạp chí Русское слово. Thời gian này ông cùng A. Fet, A. Maykov thành lập nhóm thơ поэтический триумвират, giành được sự mến mộ của bạn đọc, Polonsky trở thành một nhà thơ rất được yêu thích. Năm 1890 ông viết cho nhà thơ A. Fet: “qua thơ tôi sẽ biết được tiểu sử của tôi”. Theo nguyên tắc này, ông tập hợp một tuyển tập tác phẩm của mình gồm 5 tập, xuất bản năm 1896. Yakov Polonsky mất ở Sankt-Peterburg năm 1896.

Tác phẩm:
*Стихотворения 1845 год(1845)
*Сазандар (1849)
*Дешевый город (1879
*Рассказы (1859),
*Вечерний звон (1890)
*Чайка (1860)
*Безумие горя (1860)
*Признания Сергея Чалыгина (1867)
*Женитьба Атуева (1869)
*Полное собрание сочинений (1896)
*Полонский Я. Стихотворения. Вступит. статья, подготовка текста и примеч. Б.Эйхенбаума. Л., 1954;
*Орлов П.А. Я.П.Полонский. Рязань, 1961;
*Лагунов А.И. Лирика Я.Полонского. Ставрополь, 1974;
*Полонский Я. Лирика. Проза. М., 1984;



ĐÊM

Tại vì đâu ta yêu mi, đêm sáng
Ta yêu mi, đau khổ ngắm mi thôi
Tại vì đâu ta yêu mi, đêm lặng
Mi không gửi yên lặng cho ta mà gửi cho người!

Ta có bầu trời-sao-trăng với mây xa
ánh sáng này thoáng vút qua trên đá
Sẽ biến thành giọt sương ở cành hoa
Như con đường vàng chạy trên biển cả.

Tại vì đâu ta yêu đêm bàng bạc
Có xua đi những nước mắt đắng cay
Trả cho tim câu trả lời khao khát
Giải cho ra câu hỏi khó khăn này!

Ta có đêm trên đồi – tiếng cây lá ngủ
Biển tối rì rào tiếng sóng muôn đời
Trong vườn đêm, tiếng côn trùng, sâu bọ
Hay đồng thanh rào rạt mạch nước trôi.

Tại vì đâu ta yêu tiếng đêm huyền bí
Liệu có làm mát lên oi ả trong hồn
Có dịu bớt trong cuồng điên ý nghĩ
Tất cả những gì trong yên lặng rõ ràng hơn!

Ta chẳng biết vì sao ta yêu mi, đêm tối
Ta yêu mi, đau khổ ngắm mi thôi!
Ta chẳng biết vì sao ta yêu mi, đêm tối
Có lẽ tại vì yên lặng quá xa xôi!
1850.


Đêm cuối

Chim họa mi đang hót trong vườn êm
Những ánh lửa bên kia đầm đã lụi
Đêm tĩnh lặng. Có phải em đang buồn
Rằng hai chúng mình vẫn còn ở lại?

Anh không muốn cùng với em chia tay
Anh không muốn từ giã chiếc ghế này
Nơi em nghe họa mi trong đêm hót
Và thả hồn theo những giấc mơ say.

Đừng bối rối! Không phải về chuyện cũ
Không phải anh đã có thể yêu em
Không phải vì sao con tim nức nở
Anh không nói về chuyện đó với em.

Lời của anh hồi hộp và lo lắng…
Tốt hơn là nghe tiếng hót họa mi
Vì một lẽ, chim họa mi thì chẳng
Yêu và nhầm, rồi đau đớn nhường kia.

Nhưng họa mi đã yên trong đêm vắng
Chim hạnh phúc bay về với lặng yên…
Em hãy chúc cho anh đêm tĩnh lặng
Hẹn một ngày sẽ gặp lại cùng em!

Hãy chúc anh một đêm không để ý
Và những người khác tỉnh giấc trên trời
Nơi anh có thể cùng em gặp gỡ
Với bài ca họa mi ở trên môi!


Tình yêu lạnh lẽo

Cuộc sống có nhiều chuyện làm anh suy nghĩ
Và khi em âu yếm hôn anh
Mà anh không đáp bằng nụ hôn như thế
Thì em đừng buồn, đừng trách cứ gì anh!

Tình anh từ lâu không vui vẻ mơ màng
Nhưng mà hãy vẫn còn chưa yên ngủ
Và trở thành tấm khiên che chở
Cho em khỏi những đau buồn.

Tình yêu anh không hề phụ tình em
Như áo giáp trên ngực người tráng sĩ
Trong trận đánh, áo giáp này chung thủy
Nhưng làm gì có nồng ấm đâu em!

Không phụ em, nhưng nếu em phụ anh
Và sinh lời đàm tiếu
Thì khi em hiểu ra cuộc đời khó khăn
Em sẽ nhớ về tình yêu lạnh lẽo.
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2007, 10:35 AM   #36
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Alexandr Sergeevich Pushkin (6/6/1799 – 10/2/1837) - nhà thơ Nga, người đặt nền móng cho nền văn học Nga mới, người sáng tạo ra ngôn ngữ văn học Nga hiện đại.

Tiểu sử:
Pushkin sinh ở Moskva trong một gia đình có nguồn gốc quí tộc. Bố là Sergei Lvovich Pushkin là một người yêu thích văn học cổ điển Pháp và cũng làm thơ nhưng chỉ những người quen, bạn bè biết. Mẹ là Nadezhda Osipovna có dòng dõi từ một nô lệ da đen của Pyotr Đại đế. Thời thơ ấu, trong những tháng hè, Pushkin thường sống với bà ngoại ở làng Zakharov, ngoại ô Moskva. Ký ức tuổi thơ được thể hiện trong nhiều tác phẩm sau này của ông. Lên 6 tuổi, Pushkin được vào học ở trường Lyceum Hoàng gia ở Tsarskoe Selo. Thời gian học ở đây, Pushkin đã được chứng kiến cuộc Chiến tranh Vệ quốc năm 1812 của nước Nga chống lại quân Pháp của Napoleon. Năm 1815 Pushkin viết bài thơ Воспоминание о Царском Селе (Hồi ức về Hoàng thôn) được Gavrila Derzhavin coi là một tác phẩm kiệt xuất và tôn vinh Pushkin, khi đó mới 16 tuổi, như một nhà thơ lớn của nước Nga. Học xong Lyceum, Pushkin tích cực tham gia vào các hoạt động văn học nghệ thuật của giới quý tộc trí thức trẻ tại Sankt-Peterburg, lúc bấy giờ đang nỗ lực đấu tranh cho một cuộc cách mạng xoá bỏ chế độ nông nô tại Nga. Thời gian này ông cho ra đời những bài thơ mang tính chính trị như К Чаадаеву (Gửi Chaadaev 1818); Н. Я. Плюсковой (Gửi N. Ya. Plyuskova, 1818); Деревня (Làng quê, 1819)... Năm 1820 Pushkin cho in bản trường ca đầu tiên của mình - Руслан и Людмила (Ruslan và Lyudmila), ngay lập tức tạo được tiếng vang lớn về phong cách cũng như chủ đề, mặc dù cũng phải chịu sự công kích dữ dội từ phía chính quyền. Mùa xuân 1820, do những bài thơ cách mạng, thống đốc Sankt-Peterburg, bá tước M. Miloradovich, đã quyết định đày Pushkin tới Siberi. Tuy nhiên nhờ sự giúp đỡ và ảnh hưởng của những người bạn (những nhà văn, nhà thơ lớn của nước Nga, cuối cùng ông chỉ phải chịu mức án nhẹ hơn bị trục xuất khỏi Sankt-Peterburg vô thời hạn. Sau khi rời Sankt-Peterburg, Pushkin đã đi xuống miền nam nước Nga, tới Kavkaz và Crimea, Moldavia, Kiev. Trong thời gian này ông vẫn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm mới có ảnh hưởng rất lớn tới văn học Nga thế kỷ 19, như Кавказский пленник (Người tù Kavkaz, 1822); Гавриилиада (Gavriiliada 1821); Братья разбойники (Anh em lũ cướp, 1822); Бахчисарайский фонтан (Đài phun nước Bakhchisarayskiy, 1824). Năm 1823, ở Kishinov, Pushkin bắt tay vào viết tiểu thuyết bằng thơ, kiệt tác Евгений Онегин (Evgeny Onegin). Tháng 7 năm 1824, với đơn xin ân xá, Pushkin được chính quyền cho phép về ở khu trang trại Pskov tại vùng Mikhailovskoe dưới sự kiểm soát của gia đình. Năm 1825, trong lần sang thăm trang trại láng giềng, Pushkin đã gặp nàng Anna Kern, người tạo cho ông cảm hứng để sáng tác bài thơ nổi tiếng Gửi K. Năm 1831, Pushkin kết hôn với người đẹp Natalia Goncharova. Chính người đẹp Natalia Goncharova là nguồn cảm hứng cho sáng tạo của Pushkin nhưng cũng là nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông. Năm 1837, do những tin đồn thất thiệt về quan hệ ngoại tình của vợ mình với Georges d'Anthès, một sỹ quan kỵ binh trong quân đội Sa hoàng, Puskin đã thách đấu súng với viên sĩ quan trẻ tuổi này. Cuộc đọ súng đã kết thúc hết sức bi kịch khi cả hai đối thủ đều bị thương, nhưng Puskin đã bị trọng thương và qua đời hai ngày sau đó – 10 tháng 2 năm 1837 (ngày 29 tháng 1, theo lịch cũ).

Tác phẩm:
Trường ca:
*Руслан и Людмила (1817-1820)
*Кавказский пленник (1820-1821)
*Гавриилиада (1821)
*Вадим (1821-1822)
*Братья разбойники (1821-1822)
*Бахчисарайский фонтан (1821-1823)
*Цыганы (1824)
*Граф Нулин (1825)
*Полтава (1828-1829)
*Тазит (1829-1830)
*Домик в Коломне (1830)
*Езерский (1832)
*Анджело (1833)
*Медный всадник (1833)

Tiểu thuyết thơ:
*Евгений Онегин (1823-1832)

Kịch:
*Борис Годунов (1825)
*Скупой рыцарь (1830)
*Моцарт и Сальери (1830)
*Каменный гость (1830) [1]
*Пир во время чумы (1830)
*Русалка (1829-1832)

Thơ:
*1809-1825
*1826-1836
*Стихотворения Пушкина по алфавиту

Văn xuôi:
*Арап Петра Великого (1827)
*Роман в письмах (1829)
*Повести покойного Ивана Петровича Белкина (1830)
*Выстрел
*Метель
*Гробовщик
*Станционный смотритель
*Барышня-крестьянка
*История села Горюхина (1830)
*Рославлев (1831)
*Дубровский (1833)
*Пиковая дама (1834)
*Египетские ночи (1835)
*Путешествие в Арзрум во время похода 1829 года (1835)
*Капитанская дочка (1836)

Tuyện cổ tích:
*Жених (1825)
*Сказка о попе и о работнике его Балде (1830)
*Сказка о медведихе (1830?)
*Сказка о царе Салтане, о сыне его славном и могучем богатыре князе Гвидоне *Салтановиче и о прекрасной царевне лебеди (1831)
*Сказка о рыбаке и рыбке (1833)
*Сказка о мёртвой царевне и семи богатырях(1833)
*Сказка о золотом петушке (1834)




TÔI ĐÃ YÊU EM

Tôi đã yêu em… và có lẽ tình
Trong lòng tôi vẫn còn chưa tắt hẳn
Nhưng hãy để tình yên, tôi không muốn
Một điều gì gợi lại nỗi đau em.

Tôi đã yêu em vô vọng, âm thầm
Khi rụt rè, khi lòng ghen hậm hực
Tôi đã yêu em chân thành, tha thiết
Lấy đâu người như thế nữa yêu em.


NGƯỜI CA SĨ

Em có nghe trong rừng đêm thanh vắng
Ca nỗi buồn người ca sĩ tình yêu?
Trên cánh đồng buổi sớm mai yên lặng
Tiếng sáo diều dung dị hát cô liêu
Em có nghe thấy chăng?

Em có gặp trong rừng hoang đêm ấy
Ca nỗi buồn người ca sĩ tình yêu?
Giọt lệ nhòa, nụ cười em có thấy
Ánh mắt nhìn buồn bã biết bao nhiêu
Em có gặp gỡ chăng?

Em có thổn thức nghe lời lặng lẽ
Ca nỗi buồn người ca sĩ tình yêu
Khi trong rừng chàng trai em để ý
Gặp ánh nhìn trong mắt đã nhòa theo
Em có thổn thức chăng?
1816.




NGƯỜI ĐẸP ƠI ĐỪNG HÁT NỮA

Người đẹp ơi em đừng hát nữa
Bài hát buồn của xứ Gruzia
Nghe em hát lòng tôi lại nhớ
Cuộc đời xưa và bến bờ xa.

Những câu hát của em dữ dội
Gợi lòng tôi lại nhớ, thương ôi!
Đêm thảo nguyên, ánh trăng đồng nội
Người em xưa, hình bóng xa vời...

Cái hình bóng thân thương, khổ ải
Nhìn thấy em tôi ngỡ quên đi
Nhưng em hát - lại hình dung thấy
Trước mắt tôi hình ấy hiện về(1).

Người đẹp ơi em đừng hát nữa
Bài hát buồn của xứ Gruzia
Nghe em hát lòng tôi lại nhớ
Cuộc đời xưa và bến bờ xa.
1828.
_____________________
(1)Puskin nhớ về Maria Raevskaya khi nghe người đẹp Anna Olenina hát bài dân ca Gruzia .


CON TIM NÀY KHÔNG THỂ(1)

Trên đồi cao còn đọng ánh sương đêm
Trước mặt anh sông Aragva ầm ĩ
Nghe lâng lâng nỗi buồn nhớ dịu êm
Hình bóng em ngập tràn trong nỗi nhớ.

Một mình em, chỉ riêng một mình em
Chẳng có gì gợi lòng anh buồn thế
Ngọn lửa tình lại rạo rực cháy lên
Bởi không yêu con tim này không thể.
1829.
_______________________
(1)Bài thơ này ở lần hiệu đính thứ hai Puskin đề tên Natalia Goncharova (vợ nhà thơ) nhưng ở lần thứ nhất đã đề tên Maria Raevskaya. Bài thơ này được viết trong chuyến đi về vùng Kapkage. Puskin đã nhớ lại chuyến đi trước vào năm 1820 cùng với gia đình vị tướng Raevsky. Nhà Raevsky có ba cô con gái xinh đẹp: Êkaterina 22 tuổi, Êlêna 16 tuổi và Maria 14 tuổi. Theo như những gì còn được ghi lại thì Puskin đã yêu ngay cả ba cô cùng một lúc nhưng với Maria có phần nặng tình hơn. Sau này Maria đã hồi tưởng lại: “Là thi sĩ, anh ấy cho mình có nghĩa vụ phải yêu hết tất cả các cô gái trẻ và những phụ nữ xinh đẹp mà mình đã gặp”.




CÒN LẠI GÌ CHO EM

Còn lại gì cho em trong tên gọi
Sẽ chết đi như tiếng dội buồn thương
Của ngọn sóng vỗ bờ xa mòn mỏi
Như rừng sâu tiếng vọng giữa đêm trường.

Cái tên gọi trong những dòng lưu bút
Để lại cho em dấu chết, tựa như
Lời ai điếu giữa những viền hoạ tiết
Mà lời văn nghe u ẩn, mịt mù.

Cái tên gọi đã từ lâu quên lãng
Trong những cơn xúc động mới cuồng điên
Chẳng hề gợi trong hồn em một thoáng
Hoài niệm xưa bao tha thiết êm đềm.

Nhưng nếu gặp ngày âm thầm đau đớn
Phút u buồn xin em hãy gọi tên
Và hãy nói: vẫn còn đây kỷ niệm
Em vẫn còn sống giữa một trái tim(1).
1830.
___________
(1)Người vẫn còn sống trong trái tim thi sĩ này là Carolina Sobanskaya. Thời hai người yêu nhau ở thành phố biển Odessa Puskin đã ghi những dòng kỷ niệm và ký tên mình trong cuốn sổ lưu niệm theo yêu cầu của nàng.




NỤ HÔN NGÀY GẶP LẠI(1)

Về lại quê hương bờ xa vẫy gọi
Em giã từ miền đất lạ xa xôi
Trong giờ phút buồn đau nhớ mãi
Trước mặt em anh đã khóc ngậm ngùi.

Đôi bàn tay anh trong cơn giá rét
Cố giữ lấy em, anh sợ qúa chừng
Nghe rời rã vì chia ly khủng khiếp
Anh đã van xin nức nở không ngừng.

Nhưng đôi môi em quay đi chẳng nhận
Phút chia ly trên bến nụ hôn buồn
Từ xứ sở của ngày xa u ám
Em trở về vùng đất mới gọi anh.

Em đã nói: “Rồi trong ngày gặp lại
Dưới bầu trời muôn thưở màu xanh
Dưới bóng ô-liu nụ hôn ân ái
Mình lại bên nhau như cội liền cành”.

Nhưng than ôi, nơi bầu trời hẹn ước
Đã ánh lên vầng sáng giữa không trung
Nơi bóng ô-liu nằm trên đáy nước
Em ngủ say trong giấc mộng cuối cùng.

Cả sắc đẹp và nỗi đau tê tái
Đều thành tro trong bình đựng thi hài
Cùng biến luôn nụ hôn ngày gặp lại
Nhưng nơi này anh vẫn đợi chờ ai...
1830.
_______________
(1)Puskin đau đớn nhớ lại ngày chia tay với người tình Amalia Riznich trên thành phố cảng Odessa. Amalia Riznich là một thiếu phụ xinh đẹp và quyến rũ mang trong mình hai dòng máu Đức và Y. Mặc dù có chồng là một thương gia giàu có nhưng vây quanh nàng có nhiều bậc hiền nhân, quân tử trong đó có Puskin. Cuối cùng, trái tim người đẹp đã dành cho thi sĩ nhưng ngày vui của họ chẳng được lâu.
Ngày gặp gỡ hạnh phúc chẳng kéo dài
Bởi hạnh phúc lâu ngày không chịu ở
Nhưng chia ly để hy vọng ngày mai
Ta lại vui niềm vui ngày gặp gỡ.

(Thomas Moore).
Khi chồng của Amalia biết chuyện đã cho nàng trở về ý. Phút chia tay hai người cùng hẹn ngày gặp lại trên đất ý nhưng khi về ý Amalia đã chết vì bệnh lao phổi.



VỀ LẠI THÁNG NGÀY XANH

Tôi chẳng tiếc những mùa xuân tuổi trẻ
Trôi đi trong những giấc mộng tình buồn
Tôi chẳng tiếc về những đêm huyền bí
Trong hoan ca những khoái lạc như tuôn.

Tôi chẳng tiếc những bạn bè nông nổi
Những cuộc vui suốt sáng, những trận cười
Tôi chẳng tiếc những người ưa thay đổi
Giờ trầm tư xa lánh những trò vui.

Nhưng đâu rồi những phút giây âu yếm
Những hy vọng trẻ trung, những yên lặng chân thành?
Đâu lòng nhiệt tình đâu nguồn xúc cảm?..
Hãy cho tôi về lại tháng ngày xanh!
1820.


ĐIỀU MONG ƯỚC

Tôi khóc đây, nước mắt – nguồn an ủi
Nhưng chẳng nghe tiếng nức nở của tôi
Tâm hồn tôi đang ngập tràn buồn tủi
Trong nỗi buồn tôi tìm thấy niềm vui.

Giấc mơ đời! Bay đi, tôi chẳng tiếc
Hãy biến vào trong hoang vắng, cô liêu
Chỉ đau khổ tình yêu tôi thân thiết
Tôi chết đây nhưng chết bởi vì yêu!
1816.


BỨC THƯ CHÁY

Vĩnh biệt bức thư tình!
Vĩnh biệt: tình ra lệnh.

Đã bao phen lần lữa
Đôi tay cũng không đành
Đem bức thư vào lửa
Đốt kỷ niệm ngày xanh.

Nhưng giờ đã đến lúc
Cháy lên bức thư tình
Hồn chẳng còn ấm ức
Giờ tôi đã sẵn sàng
Nhìn ngọn lửa háo hức
Ngốn từng trang, từng trang...

Phút chốc đã bùng lên
Làn khói như lưu luyến
Bay lượn lờ uốn quanh
Mang theo lời cầu nguyện.
Và ngón tay trung thành
Đã chẳng còn ấn tượng
Chút xi gắn vòng quanh
Tan rồi, ôi thiên mệnh!

Từng tờ đen cuộn lại
Rồi trở nên trắng dần
Lòng tôi đau thắt lại
Ôi tro tàn mến thương.
Niềm hân hoan khổ sở
Của số phận buồn đau
Sẽ mãi còn sống ở
Trong lồng ngực u sầu.
1825.


NẾU ĐỜI GIAN DỐI

Cuộc đời nếu có dối gian
Thì đừng giận dỗi, khóc than làm gì
Trong ngày tử biệt sinh ly
Ngày vui rồi sẽ lại về, hãy tin!
Ngày mai sống giữa con tim
Dẫu ngày đang sống âm thầm xót xa
Đắng cay rồi sẽ đi qua
Những ngày đã sống vẫn là đáng yêu.
1825.



NHỮNG CÀNH HOA MUỘN

Những cành hoa muộn thương hơn
Xinh tươi lộng lẫy những bông đầu mùa
Buồn đau những giấc mơ xưa
Êm đềm gợi chút thẫn thờ trong ta
Đôi khi giờ phút chia xa
Ngọt ngào êm ái hơn là đoàn viên.
1825.


TÀI NĂNG UỔNG PHÍ

Tài năng ngẫu nhiên, tài năng uổng phí
Cuộc đời ơi cho tôi để làm gì?
Hay tại bởi số mệnh này huyền bí
Sao cuộc đời đem kết tội làm chi?

Có ai đấy bằng quyền uy thù nghịch
Đã gọi tôi từ trong cõi hư vô
Trong hồn tôi dù say mê mãnh liệt
Nhưng đầu tôi hồi hộp mối nghi ngờ.

Trước mắt tôi giờ chẳng còn mục đích
Con tim hoang vu, trí tuệ biếng lười
Nỗi buồn chán đang làm tôi mỏi mệt
Chỉ còn cô đơn tiếng vọng cuộc đời.
1828.


VẪN CÒN RUN SỢ

Tôi vẫn nghĩ con tim giờ quên hết
Chẳng dễ dàng chịu đau khổ như xưa
Tôi vẫn nói: những ngày xưa thân thiết
Đã lùi xa không trở lại bao giờ!

Đã qua rồi những buồn vui, sướng khổ
Những giấc mơ khờ dại, cả tin...
Thế mà giờ lại vẫn còn run sợ
Lại nôn nao trước sắc đẹp uy quyền.
1835.
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2007, 11:05 AM   #37
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Yevdokia Petrovna Rostopchina (tiếng Nga: Евдокия Петровна Ростопчина, 23 tháng 12 năm 1811 – 3 tháng 12 năm 1858) – nữ nhà thơ Nga, là một trong những nhà thơ nữ đầu tiên của Nga.

Tiểu sử:
Mồ côi mẹ năm lên 6 tuổi, Yevdokia Sushkova (Ростопчина là họ sau khi lấy chồng) cùng với hai em trai sống với ông ngoại. Cô bé Yevdokia ham mê đọc sách và học tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Anh.
Năm 1831 Pyotr Vyazemsky, một người bạn của Yevdokia Sushkova, đem bài thơ “Talisman” của cô in ở cuốn lịch thư “Severnye Tsvety” (Những bông hoa phương Bắc). Năm 1833 Yevdokia Sushkova lấy chồng, Bá tước Andrey Rostopchina, con trai của một vị tướng giàu có. Năm 1836 gia đình chuyển về Sank-Peterburg, Yevdokia Rostopchina tham gia xã hội quí tộc ở thủ đô, bắt đầu in thơ và được các nhà thơ nổi tiếng như Pushkin, Lermontov, Zhukovsky khen ngợi. Năm 1845, trong chuyến đi ra nước ngoài Yevdokia Rostopchina viết bài thơ “Насильный брак”(Cuộc hôn nhân cưỡng ép) phê phán thái độ của Nga đối với Ba Lan. Sa hoàng Nicolai I cấm Yevdokia Rostopchina trở về Peterburg nên thời gian đến trước khi Sa hoàng Nicolai I chết, Yevdokia Rostopchina chỉ sống ở Moskva.

Ngoài sáng tác thơ, Yevdokia Rostopchina còn viết tiểu thuyết tự truyện và dịch thơ nước ngoài ra tiếng Nga. Bà mất năm 1858 ở Moskva.




ANH SẼ NHỚ VỀ EM

Et sur vous si grondait l'orage,
Rappelez-moi, je reviendries!..
Simple histoire*


Anh sẽ nhớ về em một khi nào… nhưng đã muộn!
Khi trên thảo nguyên của mình em đã rất xa xăm
Khi mà ta đến muôn đời, mãi mãi đi riêng
Thì khi đó anh sẽ hiểu ra và nhớ đến!
Thỉnh thoảng khi anh đi qua trước ngôi nhà hoang vắng
Nơi ngày xưa em vẫn thường vui vẻ đón chào anh
Anh sẽ buồn rầu hỏi: “Giờ nàng đã không còn?” –
Rồi vội vã đi qua, tay vẫy chùm lông mũ trắng
Anh sẽ nhớ về em!…

Anh sẽ nhớ về em không chỉ một lần, khi người khác
Bằng vẻ đỏng đảnh của mình cuốn hút, bỏ bùa anh
Và trong tình yêu người ta chỉ gian dối với tình
Cho thói hư vinh của mình đem anh làm lễ vật!
Khi bờ môi của người ta vội vàng thề thốt
Những lời hứa dối gian, người chẳng tiếc với anh
Để vứt bỏ anh và ngạo mạn cười gằn…
Với người ta ánh sáng đầu tiên của con tim đã mất
Anh sẽ nhớ về em!…

Khi mà, lạy trời đừng! Anh gặp cùng người khác
Kẻ nô lệ nhiệt tâm giữa vặt vãnh đời thường
Với một nửa trái tim, với một nửa tâm hồn
Chỉ tạo ra cho mình sự xun xoe và nịnh hót
Và người như thế sẽ yêu anh tai ác
Với vòng khuyên châu ngọc hay với nhẫn như nhau
Và người ta một mình cho anh biết khổ đau
Người ta thản nhiên hành hạ anh và giết chết
Anh sẽ nhớ về em!…

Anh sẽ nhớ về em khi cô đơn mơ ước
Trong buổi chiều, hoàng hôn, trong bí ẩn lặng yên
Và con tim thầm thĩ: “Tiếc người đã xa xăm
Không còn ai để ý nghĩ, tấm lòng chia sẻ được!…”
Khi phòng khách của anh trở nên hoang vu và chật
Khi đã chán bông đùa giữa những sư tử thời trang
Và anh sẽ khát khao những lời nói tự nhiên
Những tình cảm chân thành, những bài ca mỏi mệt
Anh sẽ nhớ về em!…
4 – 1838
__________
*Và nếu như với anh giông bão đến
Thì hãy gọi em, em sẽ quay về!…
Câu chuyện giản đơn (tiếng Pháp).






TẶNG RIÊNG ANH

Không, không phải em hạnh phúc khi mà
Áo quần lộng lẫy, tóc đầy hoa
Tỏa sáng trên người em vẻ đẹp
Rạo rực trong anh những ước mơ.

Cũng không phải khi bàn tay anh
Trẻ trung và phóng đãng, ngang tàng
Em áp vào người anh mái tóc
Lướt qua điệu nhảy thật vội vàng.

Cũng không phải khi thật vô tâm
Hay khi cười, trò chuyện không ngừng
Những câu chuyện chân tình, sôi nổi
Ánh mắt ngời lên vẻ hân hoan.

Em hạnh phúc khi bàn tay dịu dàng
Đem vấn vòng quanh mái tóc anh
Anh tựa vào người em lơi lả
Ánh mắt không rời, ta lặng im.

Em hạnh phúc khi ngọn lửa tình
Khi vị đắng cùng cảm nhận chúng mình
Ta nghĩ về xa xôi muôn thuở
Ta đợi chờ thay đổi bóng đêm.

Em hạnh phúc khi hai chúng mình
Khi ta quên hết cõi trần gian
Ta giữ gìn tự do im lặng
Anh chỉ về em, em về anh.

Em hạnh phúc khi được tôn sùng
Khi ngập tràn hạnh phúc của em
Em cầu trời cho anh may mắn
Và em thầm cảm tạ trời xanh!



NHỮNG NGÔI SAO ĐÊM

Ye stars, the poetry of Heaven!..
“Childe - Harold”*


Lấp lánh cho ai, hở những ngôi sao đêm
Ánh mắt ai nhìn với niềm ao ước
Ai khâm phục?… Ai ngước nhìn đôi mắt
Mà đất đai không làm bẩn ánh nhìn!

Không phải nhà thiên văn lạnh lùng vì khoa học
Cũng không phải nhà chiêm tinh có thể hiểu ra!
Không!… Trước vẻ đẹp yêu kiều họ đều mù lòa
Người muốn đoán ra, người ưa thử thách.

Chỉ nhà thơ với tấm lòng nhiệt huyết
Với sự hình dung sống động, đam mê
Có thể thưởng ngoạn vẻ đẹp bất tử kia
Và quí trọng những gì gây phấn khích!

Vâng, phụ nữ còn là sinh vật nhiệt thành
Sinh ra để ước mơ, để yêu và cảm nhận
Nhìn lên trời để cho ánh sáng và niềm hy vọng
Sẽ khơi lên vẻ run rẩy trong tim.
1840
_________
*Hỡi những ngôi sao, thi phẩm của bầu trời!.. Byron, Childe Harold's Pilgrimage.


Nguyễn Viết Thắng giới thiệu, dịch, chú giải:
“108 Nhà thơ Nga”
với sự cộng tác của Ivan Ivanovich Ivanov
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2007, 11:20 AM   #38
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow

[IMG]http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/f/fa/Rozdestvensky*.jpg[/IMG]

Robert Ivanovich Rozhdestvensky (tiếng Nga: Ро́берт Ива́нович Рожде́ственский, 20 tháng 6 năm 1932 – 20 tháng 8 năm 1994) – nhà thơ, nhà văn Nga – Xô Viết.

Tiểu sử:
Robert Rozhdestvensky sinh ở làng Kosikha, Altai Krai. Bố là Stanislav Nikodimovich Petkevich, mất năm 1941 trong thế chiến II. Sau chiến tranh mẹ lấy chồng lần thứ hai, họ và têm lót là của bố dượng. Học xong bậc trung học phổ thông, Robert Rozhdestvensky vào học Đại học Petrozavodsk. Bắt đầu in thơ trên tạp chí của trường. Năm 1956 tốt nghiệp trường viết văn Maxim Gorky. Cùng với Voznesensky, Yevtushenko, Akhmadulina… ông là một đại diện tiêu biểu của trường phái “Thơ trẻ” (молодая поэзия) những năm 1950 – 1960. Đặc điểm nổi bật của dòng thơ này là sự chân thành và ngôn ngữ thơ mới mẻ, thể hiện trách nhiệm công dân trong những đề tài nóng hổi của thời đại (đòi hòa bình cho nhân loại và sự công bằng xã hội, tình hữu nghị giữa các dân tộc, những bài học của thế chiến II). Ngoài thơ, Robert Rozhdestvensky còn là tác giả phần lời của nhiều bài hát nổi tiếng và dịch nhiều thơ nước ngoài ra tiếng Nga. Năm 1979 ông được tặng giải thưởng Nhà nước Liên Xô.

Tác phẩm:
*Флаги весны, 1955
*Испытание, 1956
*Дрейфующий проспект, 1959
*Ровеснику, 1962
*Необитаемые острова, 1962
*Радиус действия, 1965
*Сын Веры, 1966
*Всерьез, 1970
*Радар сердца, 1971
*Голос города, 1977
*Все начинается с любви, 1977
*Это время, 1983
*Моя любовь, 1955
*Письмо в тридцатый век, 1963
*Поэма о разных точках зрения, 1967
*До твоего прихода, Поэма о любви, 1968
*Посвящение, 1969
*210 шагов, 1978
*Ожидание, 1982



KHÔNG YÊU NGƯỜI NÔ LỆ

-Trao cho em tình yêu?
-Trao đây!
-Tình yêu bụi phủ đầy...
-Cứ trao cả bụi đầy!
-Nhưng anh muốn xem bói...
-Bói đi.
-Và muốn ra câu hỏi...
-Hỏi đi!..
-Giả sử, anh gõ cửa...
-Em mở!
-Giả sử, nếu anh rủ...
-Em đi!
-Thế nếu như tai hoạ?
-Sợ gì!
-Thế nếu anh nói dối?
-Tha tội!
-Giờ ra lệnh: “Hãy hát!”
-Hát đây!
-Hãy đóng ngay cửa lại...
-Đóng ngay!
-Nói với em: hãy giết!..
-Giết liền!
-Nói với em: hãy chết!..
-Quyên sinh!
-Nếu như anh bị đắm?
-Em cứu!
-Thế nếu làm em đau?
-Em chịu!
-Nếu bỗng nhiên – bức tường?
-Phá luôn!
-Thế nếu như - rắc rối?
-Em gỡ!
-Nếu cả trăm rắc rối?
-Không sợ!..
-Giờ trao em tình yêu?
-Tình yêu!..
-Không bao giờ anh trao!
-Tại vì sao?!
-Tại vì không yêu
những người nô lệ.
(1969)




TÌNH MÙA ĐÔNG

Ngoài sân thật lạnh lùng.
Thật uổng phí tháng mười hai tình đến.
Tình mùa đông
Có cuộc đời thật ngắn.
Tuyết rơi lẳng lặng
Trên đất lạnh lùng.

Tuyết trên đường phố
Tuyết trong rừng
Tuyết trong những lời em
Và trong mắt em đó.

Tình mùa đông
Có cuộc đời thật ngắn.
Tuyết rơi lẳng lặng
Trên đất lạnh lùng.

Và khi em chia tay với anh
Anh nghe ra giọng của em rất lạnh.
Tình mùa đông có cuộc đời thật ngắn.
Tuyết rơi lẳng lặng
Trên đất lạnh lùng.

Lời thề nguyền mùa đông thật lạnh.
Rất lâu anh sẽ đợi mùa xuân.
Tình mùa đông
Có cuộc đời thật ngắn
Tuyết rơi lẳng lặng
Trên đất lạnh lùng.


TÌNH MÙA ĐÔNG
Gửi Alena

Em biết không,
anh muốn cho mỗi lời của
bài thơ buổi sáng này, bỗng nhiên
kéo đến tận bàn tay của em
tựa hồ
như cành tử đinh hương buồn bã.
Em biết không,
anh muốn cho mỗi dòng, bất thình lình
thoát khỏi tứ thơ và kích cỡ
tan ra từng mảnh nhỏ, đáp lời trong tim
em đó. Em biết không,
anh muốn cho mỗi dòng nhìn vào em
thật âu yếm yêu thương. Và giá
mà chất đầy ánh nắng
tựa hồ như những giọt sương
trên bàn tay của cây phong. Em biết không
anh muốn cho cơn bão tuyết tháng mười hai ngoan ngoãn
nằm dưới bàn chân em.
Và anh muốn
cho chúng mình được yêu nhau
bấy nhiêu
bấy nhiêu ngày ta được sống.




NHỮNG LỜI XƯA CŨ

Ba lời, tựa hồ như ba ngọn lửa
Bay đến với em giữa ban ngày.
Và trong đêm bay đến với em đây
To lớn, như trái đất này xưa cũ.
Đối với con thuyền – là cánh buồm
Ba lời: “Anh yêu em”.
Chao ôi, những lời xưa cũ
Thế mà đầu óc quay cuồng
Thế mà đầu óc quay cuồng…

Ba lời, muôn thuở, như mùa xuân
Trời cho ba lời này sức mạnh.
Ba lời, và một số phận
Một mơ ước, một lối mòn…
Và không nén nhịn được, có một lần
Em nói rằng: “Em yêu anh”.
Chao ôi, những lời xưa cũ
Thế mà đầu óc quay cuồng
Thế mà đầu óc quay cuồng…

Ba lời, có vẻ như ba hoàng hôn
Em hãy một chút to hơn nhắc lại
Vì bây giờ với em hoàng hôn không phải
Ba lời hiểu ra từ buổi đầu tiên.
Chúng bay đến từ chốn xa xăm
Xuyên vào trái tim muôn thuở.
Chao ôi, những lời xưa cũ
Thế mà đầu óc quay cuồng
Thế mà đầu óc quay cuồng…
1972


ĐI ĐẾN NHÀ EM

Đi đến nhà em
để lại
được nghe giọng nói
và ngồi trên ghế, cúi mình
mà không nói không rằng.
Đi đến,
gõ cửa
lịm người, đợi câu trả lời…
Nếu như em biết được điều này
thì, có lẽ, em không tin nổi
thì, có lẽ, em phá lên cười
và nói:
“Thật là dại khờ quá đỗi…”
Em nói rằng:
“Anh cũng –
yêu em!” –
và em nhìn rất ngạc nhiên
và em không đứng yên một chỗ.
Tiếng cười vang lên như một dòng sông…
Thôi đành thế.
Thì em cứ việc cười lên
Anh yêu em
như thế.


CÓ NHỮNG LỜI THẬT BUỒN

Có những lời thật buồn
có những lời cay đắng.
Những lời theo đường dây điện
dưới thung lũng
trên rừng.
Trong những phong bì dán kín như bưng
chúng gõ trên những thanh tà vẹt
trên những thanh tà vẹt
trên những mô đất:
“Vĩnh biệt.
Vĩnh
biệt…”





HÃY NÓI MỘT ĐIỀU GÌ ĐÓ VỚI EM

Giống như thời thơ ấu, đêm trần truồng
Mặt đất trở nên rộng lớn hơn…
Bên má tôi tha thiết
Những lời buốt thấu xương:
Hãy nói với em điều gì đi anh!”…

“Hãy nói với em điều gì đi anh!
Anh hãy nói!
Nhanh lên!
Mặc những vì sao giữa trời xanh
Mọc.
Rồi biến mất.
Dù sao thì anh
Hãy nói một điều gì đó với em!…
Anh phải trả nợ cho nụ hôn
Bằng những lời muôn thuở, như ngày cũ…
Anh học văn
Để làm gì cơ chứ?
Anh hãy nói với em
Một điều gì tốt đẹp…
Vì anh đã không phản bác
Lòng can đảm của em
Rằng em cố ý, chủ tâm
Vì đời con gái
Vô cùng ngắn ngủi
Hãy nói một điều gì tốt đẹp đi anh…”

Em thánh thần
Và em sơ suất
Sao em hỏi gì anh?
Điều sự thật?
Điều dối gian?
Nhưng em thì thào khoan nhặt:
“Hãy nói với em
Anh hãy nói với em
Một điều gì tốt đẹp…”


Còn nữa....
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2007, 06:24 PM   #39
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Nicolai Mikhailovich Rubtsov (tiếng Nga: Николай Михайлович Рубцов, 3 tháng 1 năm 1936 - 19 tháng 1 năm 1971) - nhà thơ Nga.

Tiểu sử:
Nicolai Rubtsov sinh ở Emetsk, tỉnh Arkhangelsk. Năm 1940 cả gia đình chuyển về Vologda. Cậu bé Nicolai Rubtsov sớm mồ côi bố, Mikhail Rubtsov (1900 - 1962), theo như cách nghĩ của các con thì bố chết ở chiến trường năm 1941 (trên thực tế ông vẫn sống sau chiến tranh nhưng không liên hệ gì với các con mà sống riêng). Năm 1942 mẹ mất, cả Nicolai Rubtsov và em trai được gửi vào trại tế bần và được học hết lớp 7. Từ năm 1950 - 1952 nhà thơ tương lai học ở trường trung học lâm nghiệp. Hai năm sau đó làm thợ đốt lò trên tàu đánh cá ở Arkhangelsk và hai năm làm công nhân ở nhà máy quốc phòng Kirov, Leningrad. Các năm 1955 - 1959 phục vụ quân đội ở Hạm đội Biển bắc. Sau khi giải ngũ tiếp tục vào làm công nhân ở nhà máy Kirov.
Năm 1962 vào học trường viết văn Maxim Gorky, làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng và in những tập thơ đầu tiên. Tốt nghiệp trường viết văn năm 1969 và được nhận căn hộ riêng. Rubtsov mất tại nhà riêng trong một lần say rượu, cãi nhau và gây lộn với vợ. Người này sau đó bị vào tù, sau khi ra tù đi đọc thơ của chồng và giải thích với công chúng về số phận run rủi đã đẩy đến cái chết của Nicolai Rubtsov.
Thơ trữ tình của Nicolai Rubtsov giản dị, mang hương đồng gió nội của những vùng quê Vologda. Trong thơ ông có một nỗi buồn vĩnh cửu về số phận của cuộc đời mình cũng như số phận của đất nước. Nicolai Rubtsov là một trong những nhà thơ trữ tình được yêu thích nhất ở Nga. Tượng đài của ông được đặt ở nhiều thành phố của Nga.

Tác phẩm:
*Лирика (Thơ trữ tình, 1965),
*Звезда полей (Ngôi sao đồng nội, 1967),
*Душа хранит (Tân hồn gìn giữ, 1969)
*Сосен шум (Tiếng động hàng thông, 1970),
*Стихотворения. 1953-1971(Thơ 1953 -1971, in năm 1977).
*Зелёные цветы (Những bông hoa màu xanh, 1971)
*Последний пароход (Con tàu cuối, 1973)
*Избранная лирика (Thơ trữ tình chọn lọc, 1974)
*Подорожники (Những bụi mã đề, 1975)




ANH ĐÃ QUÊN MẤT RẰNG YÊU LÀ GÌ

Anh đã quên mất rằng yêu là gì
Khi bước đi dưới trăng trên đường phố
Đã thốt ra biết bao lời nguyền rủa
Giờ nhớ về bỗng thấy tối tăm ghê.

Có một lần anh áp mặt vào tường
Theo dấu vết một hình thù quái gở
Rồi một mình kêu lên trong giấc ngủ
Khi thức giấc, anh cất bước lên đường.

Cánh cửa mở ra trong đêm muộn màng
Em không vui, gương mặt còn ngái ngủ
Anh đứng bên bục cửa như con thú
Khao khát vô cùng ấm áp tình thương.

Anh đi đi! Em tái nhợt kêu lên
Tình cảm chúng mình chỉ là quá khứ
Giờ với anh, em không còn gì nữa
Anh đi đi! Em khóc, chớ đứng nhìn…

Và anh quay lại theo con đường rừng
Trên con đường đã đi nhiều đám cưới
Không tự chủ được mình, rất tăm tối
Anh lo âu đi trong bão tuyết đêm…
1970


NHỮNG CHIẾC LÁ BAY ĐI

Từ hàng dương bay đi từng chiếc lá
Điều hiển nhiên vẫn lặp lại trong đời
Đừng thương tiếc lá làm chi, em ạ
Mà hãy thương hiền dịu mối tình tôi!

Em cứ để mặc hàng cây trần trụi
Bão tuyết gào, em trách bão mà chi!
Bởi ở đây không ai người có lỗi
Khi lìa cành những chiếc lá bay đi.




BAY ĐẾN NƠI NÀO

Hai chúng mình sẽ tự do như chim
Em thì thầm. Và ngó nhìn buồn bã.
Như bầy chim giăng thành hàng dài nhỏ
Bay trên biển trời bão tố không yên.
Và anh thấy thương, thấy tiếc một điều gì
Rằng anh yêu và được người yêu trả…
Em như chim của bầu trời xứ lạ
Đến nơi nào hai đứa sẽ bay đi?


ANH HÔN EM QUA DÒNG NƯỚC MẮT

Anh hôn em qua dòng nước mắt
Nhưng dòng nước mắt em chẳng nhìn ra
Bởi vì trời tối và ẩm ướt
Bởi vì lần ấy - đêm thu.

Trên mặt đất vút bay từng chiếc lá
Còn trên biển - bão tố rì rầm.
Những chiếc lá giờ ở lại với em
Và ở lại đây cùng anh - bão tố.

Những con sóng to lớn và dữ dằn
Sóng hờ hững đập vào từ bốn phía
Nhưng bây giờ lặng yên trên biển cả
Và hoàng hôn vẫn cháy đỏ trong sương.

Anh nghĩ rằng em ra biển thường xuyên
Em bước ra đợi chờ anh ở đó
Anh với ý nghĩ hạnh phúc như thế
Có vẻ như bình minh cháy trong lòng!

Hãy để cho bão tố đến với em
Mang nỗi buồn của anh đem bày tỏ
Còn niềm hy vọng và lòng chung thủy
Cho hoàng hôn sẽ biểu lộ trong sương…





TẠI SAO?

Em hãy là con trẻ
Giọng thanh nhẹ, mắt nai
Em hãy là con trẻ
Em chỉ biết đùa chơi.

- Nào, ta vào rừng nhé!
- Nào, đánh thức họa mi!
Ở đó, dưới mái che
Chiếc ghế dài yêu quý.

- Nào, cùng chạy ra đồng!
- Nào, cùng ngắm hoàng hôn!
Tôi nghe theo miễn cưỡng
Nói lời gì mông lung.

Nhưng tình cảm ngại ngùng
Tôi biết nhiều thứ quá
Thường với em gặp gỡ
Cô đơn, không nhẹ nhàng.

Nhưng mà em buồn rầu
Gặp nhau nghiêm túc hẳn
Em hoàn toàn nhầm lẫn
Những mâu thuẫn của tôi!

Tại sao vào rừng thế?
Sao đánh thức họa mi?
Sao đứng dưới mái che
Chiếc ghế dài đơn lẻ?


KHÚC HÁT ĐÊM ĐÔNG

Trong ngôi làng này lửa chưa tắt hẳn.
Em nỗi buồn không báo trước cho anh!
Đêm mùa đông đốt lên thật dịu dàng
Những vì sao ngời sáng.

Những vì sao diệu kỳ, sáng ngời, yên lặng
Nghe tiếng rì rào của lỗ nước trên băng…
Con đường anh đã từng lắm nhọc nhằn
Các ngươi ở đâu, những nỗi buồn đau đớn?

Cô gái khiêm nhường với tôi cười mỉm
Tôi cũng cười và cảm thấy vui vui
Những nhọc nhằn đều quên hết cả rồi
Chỉ còn đây - những vì sao ngời sáng!

Ai nói với tôi rằng trong sương tuyết
Đồng cỏ giã từ giờ đã tàn phai?
Niềm hy vọng, ai nói rằng, đã mất?
Thì ai người nghĩ ra nó em ơi?

Trong ngôi làng này lửa chưa tắt hẳn.
Em nỗi buồn không báo trước cho anh!
Đêm mùa đông đốt lên thật dịu dàng
Những vì sao ngời sáng…





SẦU CA

Bỏ lại đồ ăn nghèo nàn, thiếu thốn
Tôi đi về cõi yên lặng muôn đời.
Cho người ta sẽ yêu và đi kiếm
Trên dòng sông đơn độc của tôi.

Hãy cứ để cho những gì phúc lợi
Sẽ hứa hẹn cho tôi ở trên đời.
Không mua nhà cho tôi sau khe xói
Và hoa sẽ không nở cho tôi…


TẤT CẢ SẼ LÀ GIAN DỐI!

Viết về cái gì?
Điều này không theo ý được!
Chỉ có mình anh, thì
Cả cuộc đời không hát!
Anh chọn đề tài biển
Và đề tài đồng ruộng
Thế đề tài núi rừng?
Nhà thơ chọn khác!
Nhưng
Nếu thiếu mừng vui, khó nhọc
Thì đừng tưởng rằng
Sẽ hát được ngân vang.
Đề tài nào cũng vậy -
Biển hay ruộng đồng
Và đề tài núi rừng
Tất cả sẽ là gian dối!





David Samoylov (tiếng Nga: Давид Самойлов) là bút danh của David Samuilovich Kaufman (tiếng Nga: Давид Самуилович Кауфман, 1 tháng 6 năm 1920 - 23 tháng 2 năm 1990) là nhà thơ Nga.

Tiểu sử:
David Samoylov sinh ở Moskva. Bố là bác sĩ, tham gia Thế chiến I, Nội chiến và Thế chiến II. Những năm 1938 - 1941, David Samoylov học ở Đại học văn học, lịch sử và triết học Moskva (ИФЛИ). Năm 1941 tình nguyện ra mặt trận nhưng bị giữ lại ở hậu phương do tình trạng sức khoẻ không được tốt. Một thời gian học hàm thụ ở Đại học sư phạm Ashkhabad. Sau chiến tranh ông dịch thơ từ các thứ tiếng Litva, Ba Lan, Séc, Hungari ra tiếng Nga. Năm 1958 in tập thơ đầu tiên Ближние страны (Những đất nước gần) viết về những người chiến đấu ngoаi mặt trận. Sau đấy lа cбc tập thơ trữ tмnh triết học như Второй перевал (Ngọn đèo thứ hai, 1974). Волна и камень ( Đá và sóng, 1974); Голоса за холмами (Những giọng sau đồi, 1985)…

David Samoylov còn là tác giả của tập truyện hài rất nổi tiếng và nhiều bài viết về luật thơ. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương của nhà nước Liên Xô. Năm 1988 được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô. Những năm tháng cuối đời ông sống ở Estonia và chỉ dịch văn học các nước. Ông mất năm 1990 ở Tallin, Estonia.

Tác phẩm:
*Ближние страны (Những đất nước gần), thơ
*Второй перевал (Ngọn đèo thứ hai, 1974), thơ
*Волна и камень ( Đá và sóng, 1974), thơ
*Голоса за холмами (Những giọng sau đồi, 1985), thơ
*Весть (Tin tức, 1978), thơ
*Залив (Vịnh, 1981), thơ
*Памятные записки (Những ghi chйp kỷ niệm, 1995), ghi chйp
*В кругу себя (частично опубл. в 1993).
*Равноденствие (Tiết thu phвn, 1972), thơ
*Последние каникулы (Những kỳ nghỉ cuối cщng, 1972), thơ


SỐ PHẬN MÌNH

Số phận mình, anh trao em muôn thuở
Và dù cho số phận có đau buồn
Điều vu khống ở cùng anh, em ạ
Tự buổi ban đầu và rất ngẫu nhiên.

Mục đích của anh vô cùng đơn giản
Và điều này chẳng có chút gì thêm:
Vì cái ác anh không hề mở miệng
Chỉ mình em anh ca tụng, tạ ơn.


HỐI HẬN ĐIỀU ĐÃ LÀM THẬT KHÓ

Tất cả những gì mà tôi đem cho
Thì bây giờ vẫn còn đây đầy đủ.
Nhưng những gì mà tôi được nhận về
Thì bây giờ đang ra đi hết cả…
Phạm lỗi lầm, quả thật, chẳng khó gì
Nhưng hối hận điều đã làm thật khó.



KHÔNG QUAN TRỌNG

“Đừng ăn cắp”* - hãy tự nói với mình
Và hãy tránh thật xa sự cám dỗ.

Hãy tự nói với mình: “Chớ giận hờn”
Và bạn sẽ không giận hờn, có thể.

“Chớ giết người” - hãy tự nói với mình
Và con dao hãy để sang một bên.

Còn câu “Hãy yêu người” - hãy hát
Nhưng bạn không yêu, thôi thì cứ mặc.

Nếu bạn không ăn cắp, không giết người
Thì không quan trọng: bạn chẳng yêu ai.
___________
*Những lời răn trong Kinh Thánh.
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
chis (13-12-2007)
Old 12-12-2007, 06:39 PM   #40
ngotau02
Học sinh
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 76
Xin cảm ơn: 0
Được cảm ơn 128 lần trong 44 bài
Arrow



Stepan Petrovich Schipachev (tiếng Nga: Степан Петрович Щипачёв, 26 tháng 12 năm 1898 - 31 tháng 12 năm 1979) là nhà thơ Nga Xô Viết.

Tiểu sử:
Stepan Schipachev sinh ở làng Schipachi, tỉnh Sverdlovsk vùng Ural trong một gia đình nông dân, sớm mồ côi bố mẹ cậu bé phải bán hàng và làm công nhân từ nhỏ. Những năm 1919 - 1931 phục vụ trong quân đội. Năm 1923 in tập thơ đầu tiên ở Simferopol, vùng Crimea. Năm 1934 ông tốt nghiệp khoa văn trường Đại học giáo sư đỏ (Институт Красной профессуры). Những năm 1930 là thời kỳ ông viết được nhiều bài thơ hay nhất. Ngoài thơ, ông còn viết truyện nhưng thể loại thành công nhất là thơ trữ tình. Năm 1939 ông tham gia giải phóng miền tây Ukraina. Những năm thế chiến II ông làm việc ở ngành xuất bản quân đội.

Stepan Schipachev được tặng nhiều huân, huy chương của nhà nước Liên Xô. Năm 1973 tuyển tập tác phẩm của ông gồm 3 tập được xuất bản. Thơ của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.

Tác phẩm:
*"По курганам веков" (1923)
*"Одна шестая" (1931)
*"Наперекор границам" (1932)
*"Под небом Родины моей" (1937)
*"Лирика" (1939)
*«Фронтовые стихи» (1942)
*«Строки любви» (1945)
*«Славен труд» (1947)
*«Стихотворения» (1948)
*«Товарищам по жизни» (1972)
*«Домик в Шушенском» (1944)
*«Павлик Морозов» (1950)
*"Наследник" (1965)
*"Песнь о Москве" (1968)
*«12 месяцев вокруг Солнца» (1969)
*«Березовый сок» (1956)

[IMG][/IMG]


HÃY GÌN GIỮ TÌNH YÊU

Hãy gìn giữ tình yêu và hãy nhớ rằng
Qua tháng năm càng quí tình hơn cả.
Tình - đâu chỉ là đi dạo dưới trăng
Đâu chỉ tiếng thở dài trên ghế đá.

Có tất cả: cả tuyết bột, bùn lầy
Bởi cùng nhau sống đến ngày đầu bạc.
Tình yêu giống như một bài hát hay
Mà bài hát đâu dễ dàng sáng tác.


EM HÃY TIN RẰNG

Em hãy tin rằng: em trong cuộc đời anh
Là tất cả: hạnh phúc và tai họa
Trong cuộc đời anh có thể dối em
Nhưng trong thơ thì anh không thể.
Ôi, giá như vào khung cửa sổ
Em nhìn vào số phận của anh
Cả hai ta đều không biết được rằng
Ai ở gần hơn cái chết.
Chỉ một điều anh tha thiết
Cứ mỗi ngày sẽ mạnh hơn
Anh mong cho tình anh
Sẽ cứu anh thoát chết.


ÁNH SÁNG CỦA NGÔI SAO

ánh sáng của ngôi sao ban chiều
Giữa trời cao lấp lánh
Khu vườn trầm tư mặc tưởng
Và anh bỗng thấy cô liêu.

ánh sáng ở đây, bên anh
ánh sáng của ngôi sao xa thẳm
Đi qua hàng nghìn năm ánh sáng
ánh sáng của sao chạy đến bên anh.

Còn em cách xa có một dặm đường
Liệu có còn lâu sửa soạn
Và để cho anh không phải đoán
Em hãy đến bây giờ với người thương.





KHI EM BÊN ANH

Khi em bên anh - anh quí từng khoảnh khắc
Có thể là phía trước, những tháng năm
Ta sẽ xa nhau mà không biết được rằng
Không bao giờ hai đứa còn gặp mặt.

Chỉ những ngôi sao trong giờ gặp gỡ
Vẫn cứ toả ra ánh sáng của mình
ở đâu trong đời giá băng, khi đó
Anh còn tìm ra dấu vết của em.
1944


EM CỨ GỌI ĐIỀU NÀY

Em cứ gọi điều này như ý muốn.
Hai chúng mình bỗng thấy quí nhau hơn
Quan tâm đến nhau hơn và dịu dàng
Nhưng có điều gì làm em lo lắng?

Anh lại cũng hay tin vào giấc mộng
Và lại cũng hay suy nghĩ, thẫn thờ
Tình càng mạnh, càng rõ một điều là
Vì tình yêu mà chúng mình lo lắng.
1944


CÓ PHẢI ĐÃ QUÊN

Có phải đã quên ánh mắt của em
Và nụ hôn nồng cháy
Nếu như không chỉ một lần
Qua nước mắt gương mặt em anh thấy.
Nhưng để cho phía trước không còn lại
Thì tai họa xin cứ đến lúc này
Em là nỗi đau trong lồng ngực anh đây
Và sẽ còn mãi mãi.
1949





Igor Severyanin (tiếng Nga: Игорь Северянин, là bút danh của Igor Vasilyevich Lotaryov, 16 tháng 5 năm 1887 - 20 tháng 12 năm 1941) - nhà thơ Nga thế kỷ bạc.

Tiểu sử:
Igor Severyanin sinh ở Sank-Peterburg trong gia đình một kỹ sư quân đội. Năm 1904, học xong lớp 4, đi về vùng Viễn đông cùng với bố, sau đó bố mất, trở lại Sank-Peterburg với mẹ. Năm 1904 bỏ tiền ra in tập thơ đầu tiên. Severyanin bắt đầu nổi tiếng từ năm 1911, sau khi được nhiều nhà thơ nổi tiếng để ý và khen ngợi. Năm 1913 in tập Громокипящий кубок (Chiếc cốc sôi to), nhà thơ Fyodor Sologub viết lời giới thiệu, đã thành công vang dội. Severyanin được mời đọc thơ ở Bảo tàng Bách khoa Moskva và được tôn vinh là “Ông hoàng của các nhà thơ”. Sau đó nhà thơ Fyodor Sologub mời Severyanin tham gia chuyến công du khắp đất nước, đi đọc thơ từ Minsk đến Kutaisy.
Thời gian sau đấy, Severyanin thành lập nhóm thơ Ego-Futurists. Năm 1914 kết hợp cùng với nhóm Kubo-Futurists của Burlyuk và Mayakovsky tổ chức chuyến đi về nhiều thành phố đọc thơ.
Năm 1918 đi nghỉ ở Estonia. Năm 1920 Estonia tách khỏi nước Nga Sa hoàng, Severyanin muốn quay trở về Nga nhưng không thể, trở thành người sống lưu vong. Ông lấy vợ người Estonia, sống một cuộc sống đạm bạc, bằng lòng với cuộc sống xứ người nhưng luôn nhớ về nước Nga trong những sáng tác của mình. Thơ của Severyanin mang màu sắc chủ nghĩa lãng mạn cá nhân và mối hoài cảm về cố quốc. Ngoài sáng tác thơ ông còn dịch nhiều nhà thơ các nước ra tiếng Nga. Ông mất năm 1941 vì bệnh nhồi máu cơ tim ở Tallinn, khi đó bị Đức chiếm đóng.

Tác phẩm:
*Зарницы мысли (1908)
*Качалка грёзэрки (1912)
*Громокипящий кубок (1913)
*Златолира (1914)
*Ананасы в шампанском (1915)
*Wictoria regia (1915)
*Поэзоантракт» (1915)
*Собрание поэз (1916)
*За струнной изгородью лиры (1918)
*Поэзо-концерт (1918)
*Собрание поэз (1918)
*Creme de Violettes (1919)
*Puhajogi (1919)
*Вервэна (1920)
*Менестрель (1921)
*Миррэлия (1922)
*Роман в стихах «Падучая стремнина» (1922)
*Комедия «Плимутрок» (1922)
*Фея Eiole (1922)
*Соловей (1923)
*Трагедия титана (1923)
*Автобиографический роман в стихах «Колокола собора чувств» (1925)
*Роса оранжевого часа (1925)
*Адриатика (1932)
*Медальоны (1934)


CÓ THỂ EM YÊU NHƯNG MÀ EM KHÔNG NÓI

Có thể em yêu nhưng mà em không nói
Không nói ra, tình cảm chẳng cho xem
Mà không được xem thì làm sao biết nổi
Biết thế nào, nếu em cứ lặng im.
Em lo âu, em tự hành hạ mình
Mà có thể không yêu anh, có thể vậy!
1916




TÌNH KHÔNG TRỞ LẠI

Tình không trở lại, anh thấy tiếc vô cùng
Những ngày vui của tình yêu thuở ấy
Giờ không còn ánh mắt em mệt mỏi
Trong ánh mắt ngời miền bí ẩn xa xăm.

Tình không trở lại, trong lòng anh nỗi buồn
Như trên tuyết dần tan khắp mọi ngả
Không trả lại em phút giây tình thắm đỏ
Tình không còn - tháng Hai cũng bâng khuâng.

Sao vô vàn giữa khô cạn đại dương
Chiếu lạnh lẽo giữa hằng hà vô số
ánh sáng lạnh lùng, ánh sáng đau thương

Không số phận, không âu yếm đã từng
Anh hiểu rằng hạnh phúc không còn nữa
Tình không trở lại, tình đã không còn!..
1908


PUSKIN

Anh, đó chính là - Phút giây huyền diệu
Đã ghi sâu tâm khảm đến muôn đời
Anh là hiện thân của nguồn Xúc cảm ấy
Trước nguồn Cảm hứng này Cát bụi cũng xin lui.

Chỉ mình anh trong lòng người đang sống
Không thành tử thi dù đã lâm chung
Anh muôn thuở trong lòng người, vẫn sống
Cái chết ở đây không nói “cuối cùng”.

Bởi trong thơ anh trị vì Cái đẹp
Cái đẹp chỉ ra vẻ mặt muôn đời
Ta chẳng hình dung là anh đã chết
Và điều này - anh vĩ đại quá thôi!

Dù anh đã già đối với người đời
Nhưng với anh, những con người hiện tại
Rất nhỏ bé: bởi Phút giây huyền diệu ấy
Còn tuyệt vời hơn cả thế kỷ của tôi!


GẶP GỠ ĐỂ RỒI CHIA XA

Gặp gỡ để rồi chia xa
Yêu để mà không yêu nữa.
Ta muốn cười lên hề hề
Ta muốn khóc lên nức nở!
Thề thốt để nuốt lời thề
Ước mơ để rồi nguyền rủa…
Thật khổ cho người hiểu ra
Tất cả những trò vô bổ.
Ở quê muốn lên thành phố
Ở phố muốn về quê chơi
Đâu đâu cũng gương mặt người
Mà sao lòng lang dạ thú…
Sắc đẹp thường hay quái gở
Quái hình có vẻ đẹp xinh
Thường có cao thượng đê hèn
Vô tội cả điều ác dữ.
Làm sao không khóc nức nở
Làm sao không cười hề hề
Khi nào có thể chia xa
Khi nào thì không yêu nữa?




KINH NGHIỆM ĐAU BUỒN

Tôi rút ra một kinh nghiệm đau buồn
Cái gì xa lạ vẫn là xa lạ.
Đi về nhà mặt nước vịnh như gương
Giờ mùa xuân đang về bên cánh cửa.

Còn một mùa xuân nữa. Có thể là
Xuân cuối cùng. Nhưng mà không sao cả
Mùa xuân giúp cho tâm hồn hiểu ra
Điều tốt đẹp của ngôi nhà từ bỏ.

Có của mình, đừng xây thêm cái nữa
Chỉ bằng lòng với một thứ mà thôi
Thật dột làm chủ cái của người:
Cái gì xa lạ vẫn là xa lạ.
1936


TÔI CHƯA BAO GIỜ LỪA DỐI GÌ AI

Tôi chưa bao giờ lừa dối gì ai
Chính vì thế mà đời tôi đau khổ
Chính vì thế mà người ta phỉ nhổ
Chẳng ai cần tôi cũng bởi điều này.

Chưa bao giờ tôi lừa dối gì ai.
Chính vì thế cuộc đời trôi buồn bã.
Danh vọng, tình yêu tôi đều xa lạ
Vốn là bản chất gian dối của đời.

Tôi không biết con đường đi về nơi
Có tiếng cười bán mua và khen ngợi
Nhưng lòng tôi có một điều an ủi:
Tôi chưa bao giờ lừa dối gì ai.
1909
ngotau02 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
chis (13-12-2007)
Trả lời

Bookmarks

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến

Similar Threads
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
TRUYỆN KIỀU-Nguyễn Du vvn Tủ sách Thi ca 41 15-12-2009 08:25 PM
"Gan của nhà văn Trung Quốc quá nhỏ!" - Wolfgang Kubin Metquathantanay Trao đổi/Bàn luận 25 28-04-2009 04:04 PM
Truyện Ngắn Tràm Cà Mau vvn Phòng đọc trực tuyến 6 02-07-2005 02:05 PM


Giờ GMT. Giờ hiện tại là 06:51 AM.


Powered by: vBulletin Version 3.7.1 Copyright © 2000 - 2010, Jelsoft Enterprises Ltd.
 

Trang Nhất  |  Hướng Dẫn  |  Download  |  Diễn Đàn  |  Liên Hệ Quảng Cáo

All rights reserved. Copyright © ThuVien-eBook.com 2007