Ngòi bút của Tô Tử Cốc, vừa trang nhã, thâm trầm, vừa linh hoạt tân
kỳ như bút pháp những văn hào hiện đại Tây phương- ngòi bút Tô Tử Cốc sẽ
đưa chúng ta vào sâu trong cõi tình và lụy, đạo giáo và ước mơ, những mâu
thuẫn muôn đời vạn kiếp của con người ở một thời đại, và riêng biệt của
con người đứng chênh vênh ở đầu thế kỷ hai mươi là thế kỷ của những dông
bão dị thường. Đọc Tô Mạn Thù, chúng ta có cảm tưởng kỳ dị: chẳng những
không một tâm tình tư tưởng nào của cõi Đạo Đông phương Chân Như lọt ra
ngoài nhãn quan ông, mà ngay cả cõi Tây phương hoằng đại , từ sơ thủy Hy
Lạp Sophocle Parménide tới hiện đại Âu châu văn thể siêu thực
Appollinaire, Nerval, Camus, Morgan, không một “bút pháp” nào ông không
thành thục quán xuyến.
Toàn thể câu chuyện, cũng như mỗi tình tiết
nhỏ nêu ra đều được nung nấu trong mối tư lường của một thánh tính đạt tới
cõi lô hỏa thuần thanh, siêu thần nhập hóa. Không thể nào nói đó là bút
pháp tài tình, kỹ thuật điêu luyện,chỉ có thể nói rằng đó là một cuộc kết
tinh huyền nhiệm của lịch sử Đông phương giữa một triều sóng rộng dâng lên
cùng với bao nhiêu ngọn gió ở bốn chân trời lổ đổ thổi lại. Đọc cuốn sách
của Tô Mạn Thù cũng như đọc Sophocle, Nguyễn Du, Nerval, Apolinaire,
Faulkner, Morgan, luôn luôn chúng ta bàng hoàng trước huyền nhiệm anh hoa
phát tiết.
Đại sư Mạn Thù, tên thật là Tô Huyền Anh biệt
hiệu là Tô Tử Cốc, sinh năm 1883, mất năm 1918 (xấp xỉ đồng thời với Chu
Mạnh Trinh, Tản Đà, Apollinaire, lênh đêng giữa hai thế kỷ 19 và 20).
Thân phụ ông vốn là người Trung Hoa, tỉnh
Quảng Đông, vì cuộc sinh nhai mà lưu lạc sang Nhật Bản, cưới một thiếu nữ
Nhật, sinh hạ Tô Huyền Anh.
Tô Huyền Anh chưa được mấy tuổi, thì thân phụ
chàng đưa gia quyến về lại Trung Hoa.
Chẳng bao lâu thân phụ chàng lìa đời. Thân
mẫu đành quy về Nhật Bản, gửi đứa con ở lại Trung Hoa, nhờ thân thích bên
nội nuôi dưỡng.
Đứa bé bị họ hàng quê cha ghét bỏ, vì nó mang
một nửa phần máu mẹ Nhật Bản ở trong thân thể nó.
Đứa bé cô đơn quá, bèn cạo đầu quy y cửa
Phật, vào chùa Lôi Phong tại Quảng Châu.
Phương trượng Tuệ Long, nhận thấy thằng bé
thông minh xuất sắc, mới dốc lòng dạy dỗ. Sau mấy năm dùi mài cần mẫn, chú
bé đã thông thạo văn học tư tưởng Ấn Độ, Trung Hoa, và dăm bảy ngôn ngữ
Tây phương…
Sau khi Phương trượng viên tịch, Tô Mạn Thù
cảm thấy bơ vơ, bèn trút giũ áo tu, ra sống ngoài cõi tục. Tâm trạng tình
cảm từ đó quả thật là éo le: tu thì tu không trot, mà chen lấn chìm nổi
với đời, thì cũng thiếu hẳn khả năng chen lấn nổi chìm.
Chàng thanh niên ấy dấn gót du hành ở nhiều
tỉnh Trung Hoa, cư lưu nhiều ngày nhất là ở Thượng Hải. Và cũng từng du
lịch qua Ấn Độ, Âu Châu, Mỹ châu. Cũng nhiều phen qua Nhật Bản viếng thăm
thân mẫu.
Chính tại Nhật Bản, Tô Mạn Thù gặp Tôn Dật
Tiên ( Tôn Trung Sơn) và nhiều đồng chí của Tôn Dật Tiên sang Nhật lánh
nạn. Những anh hùng cách mạng kia chơi thân thiết với Tô Mạn Thù. Nhưng họ
Tô vốn là nhà sư thi sĩ, chẳng thể nào nhập cuộc thật sự với các lãnh tụ
chánh trị chịu chơi gay cấn kia.
Cái anh chàng thanh niên “lòng lạc loài ngay
từ thuở sơ sinh” kia từ đó càng lang thang trầm luân khắp châu quận,
trường giang đại hải. Tiếng gọi sơ đầu của Như Lai không đủ cứu vớt chàng,
dìu dắt chàng trở lại với cõi tịch mịch thanh tu. Càng ngày chàng càng đâm
ra trầm túy, nửa trong hồ rượu nửa trong biển tình. Chàng đúng là một loại
Nerval Baudelaire Dylan Thomas Verlaine Apolinaire. Nếu chàng mù được hai
mắt như Homère, ắt chàng đã khám phá ra một cõi sống dị thường trong u
tối. Nhưng cái rủi ro lại là ở chỗ: chàng không mù. Cũng không cận thị. Đó
là điều tai hại. Hiểm họa hoành sinh.
Kể từ mười mấy tuổi đầu, chàng đã sống trọn
cái thảm kịch trần gian, sinh mệnh chàng ngược xuôi lảo đảo, mười sáu tuổi
đầu, chàng đã thể hội hết nỗi đoạn trường thế sự mà Nguyễn Du đã viết lúc
đầu bạc bình sinh, chàng đã nhìn quá sáng suốt mọi thảm kịch biển dâu, mà
chẳng đủ khả năng thoát tục, cũng không đủ sức sống xô bồ bạt mạng trắng
trợn tới cùng. Thì đó là hiểm họa. Thi văn chàng từ đó mang một tố chất
đìu hiu bất khả tư nghị ở tại cái “ngã ba” siêu lệch chênh vênh gây cấn: “
dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng. Chiêm bao kỳ mộng dường gần. Sịch
mành sực tỉnh lại dần dần xa. Há rằng ngẫu nhĩ mà ra. Đoạn hồng linh nhạn
mù sa thế nào…”
Đọc đoạn hồng linh nhạn của Đại sư Tô Mạn
Thù, từ đó, chúng ta chứng kiến mọi tan vỡ trong xã hội Đông phương giữa
những xung đột kỳ thị, những mộng và tình và tiền oan túc trái…
(Tiện đây, người dịch xin đưa ý kiến riêng
là: những sách tiểu thuyết tôi được đọc trên vài mươi năm nay, không có
cuốn nào gây chấn động cho tôi nhiều như cuốn sách này của Tô Mạn Thù- trừ
cuốn truyện của Nguyễn Du ( cố nhiên) và cuốn Sylvie của Nerval và có lẽ
Fountian Sparkenbroke của Morgan- kể về mọi phương diện- nội dung văn thể,
bố cục…)
Tô Mạn Thù vốn mê thơ Lord Byron ( thi hào
lãng mạn Anh Quốc). Nhưng Tô Mạn Thù không thể sống trọn cái nghiệp Byron,
ấy có vì từ thuở sơ sinh, chàng đã quá lạc loài rũ rượi, rồi chàng lại bị
cái tiếng gọi âm thầm của Như Lai chi phối, khiến chàng suốt kiếp luẩn
quẩn, tìm không ra lối bước, đường tiến, nẻo lui. Hai dòng máu ở trong
mình, hai thời đại của lịch sử, xô con người vào một cõi cô độc dị thường-
đớ là chỗ cốt yếu trong cuốn truyện của Tô Tử Cốc. Cuống truyện hẳn nhiên
không tất nhiên phải là tiểu sử, nhưng nó phản ánh cuộc sống nội tâm của
tác giả và của một lớp người trong buổi giao thời riêng biệt.
Bùi Giáng