Anh
Đoàn dạy môn Psychotherapy và tôi dạy môn Physiotherapy nên có dịp làm
việc chung trong khóa học. Tôi ham thể thao, anh Đoàn ham viết lách,
nhưng trời Olympia mưa nhiều hơn nắng, nên tôi thường bị bó chân trong
cư xá sau giờ dạy. Ở nhà nhiều, tôi đâm ra tò mò vì thấy ngày nào, đêm
nào, ngoài giờ lên lớp, người ở phòng bên cạnh cũng say sưa gõ máy.
Hỏi
ra, mới biết anh Trần Kiêm Đoàn đang viết một cuốn truyện dài bằng
tiếng Việt. Sống xa quê hương từ năm 1965, tiếng Việt đối với tôi là
một “linh tự” vì đó là tiếng nói yêu thương của ngày xưa Quê Mẹ. Đến
khi đi mòn chân, gần khắp hết các nẽo đường xứ người, tôi mới hiểu và
cảm thấy yêu một nhân vật trong sách Giáo Khoa thuở nhỏ tôi học, khi
ông ta đi khắp bốn phương và trở lại làng cũ nói rằng: “Không nơi nào
đẹp bằng quê hương ta!” Đẹp, vì đó là nơi mẹ tôi đã sinh tôi ra và tập
cho tôi tiếng nói đầu đời bằng tiếng ru của Mẹ. Tôi yêu Quê Hương, yêu
Mẹ nên yêu Tiếng Nói của Mẹ mình.
Học
tiếng người, nói tiếng người, viết tiếng người, dạy tiếng người, nên
tôi thèm tiếng Mẹ. Tôi đã năn nỉ với anh Đoàn cho tôi đọc những trang
tiếng Việt mà anh đang viết. Lúc đó, tuy anh mới viết 3 chương bản
thảo trong số vài ba chục chương dự định cho tập sách, nhưng cũng đồng
ý cho tôi xem. Tập sách tương lai chưa có tên. Tác giả chỉ cho biết
đơn sơ rằng, anh muốn đem tinh thần hóa giải của Phật giáo để giải
quyết những vấn đề khúc mắc trong tâm lý nhân vật của cuốn truyện.
Khi
tôi hỏi về nhan đề cuốn sách, anh Đoàn đưa ra nhiều tên mà anh đang
nghĩ đến để hỏi ý tôi. Trong số những tên làm tôi chú ý, có tên “Tu Giữa Bụi Trần”. Tôi liền đề nghị với tác giả rút gọn 4 chữ thành 2 chữ là… Tu Bụi!
Vốn là nhà giáo và cựu huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam, anh Đoàn
hơi giật mình vì cụm từ “tu bụi” nghe có vẻ “phiêu bạt giang hồ” quá.
Nhưng tôi đã cố thuyết phục và đã được tác giả chấp nhận. Tôi đã đưa
ra ý kiến rằng: Về nội dung, “Tu Bụi” mang một hình tượng dấn thân của
kẻ hành đạo giữa thế giới Ta Bà; về hình thức, “Tu Bụi” có một độ bám
đặc biệt, khó chìm trong một thế giới đầy chữ nghĩa và danh từ hoa mỹ.
Nó níu được sự tò mò và chú ý của người đọc. Nếu so với những tên khác
nghe có vẻ thuần thành, văn vẻ hơn nhưng lại trơn tuột, đọc xong sẽ
quên ngay.
Thế
là khái niệm “tu bụi” ra đời như một cái duyên vừa thuận vừa nghịch.
Thuận, vì nói lên được tinh thần nhập thế của sự tu hành; đồng thời,
nắm bắt được sự tò mò chú ý và quan tâm của người đọc. Nhưng nghịch, vì
hình tượng chữ nghĩa quá mới mẻ và đầy tính phiêu lãng, chưa hề có ai
dùng.
Chờ mãi cho đến 4 năm sau tôi mới được đọc chương cuối cùng của Tu Bụi.
Tôi
rời xứ Việt và nhập vào dòng Phật giáo Sri Lanka đã hơn 40 năm nay.
Tôi thuộc Đạo Tràng Tân Tích Lan Thiền Tông (New Theravada Sangha of
Ceylon). Đây là một đạo tràng chủ trương đổi mới, tu và tìm sự giải
thoát ngay giữa cuộc đời nầy.
Đọc Tu Bụi
của tác giả Trần Kiêm Đoàn, tôi có cảm tưởng như nhìn thấy một mảnh
bóng dáng của chính mình qua nhân vật chính là Trí Hải. Đời Trí Hải có
nhiều biến cố. Từ vị trí của một vị hoàng thân, được tiên vương tin
tưởng, nhưng lại bị tân vương nghi ngờ, nhân vật Trí Hải từ địa vị cao
sang, bước vào cuộc đời gió bụi. Ông ta cũng có khi bị trôi nổi, vùi
dập trong từng chặng đời khi lên, khi xuống qua hoàn cảnh sống và qua
suy tư của riêng ông. Gặp những lúc khó khăn và khúc mắc nhất trong
cuộc sống, Trí Hải phải dựa vào tinh thần hóa giải của đạo Phật để tìm
ra phương hướng giải quyết. Hóa gỉải theo tinh thần đạo Phật trong Tu
Bụi có ba cấp độ: Biết rõ vấn đề là gì; hiểu và có khi sống thật với
vấn đề; và sử dụng toàn trí, toàn tâm để chuyển hóa trong tinh thần từ
bi và trí tuệ. Đấy là cách giải quyết vấn đề ít thiệt thòi nhất và
không gây đau khổ cho mình và cho người bởi vì cốt tủy của sự thay đổi
hay “tu” là chuyển hóa thực tế chứ không tiêu diệt vấn nạn bằng danh từ
suông hay bằng sự ỷ lại siêu hình, dễ dãi nào cả. Như lối thoát cho
một cuộc tình đầy đam mê, thơ mộng nhưng ngang trái giữa Trí Hải và Ba
Gấm không phải là một ngõ cụt của tuyệt vọng, hủy hoại mà là một sự
chuyển hóa từ dục vọng tầm thường qua lòng thương quý và sự hy sinh cao
thượng cho mình và cho người. Từ gốc rể, Trí Hải, nhân vật chính trong
truyện, không phải là người theo đạo Phật, nhưng ông đã học và đã thực
hành tinh thần đạo Phật qua hai nhân vật tu sĩ là sư Trúc Lâm và thầy
Tiều. Tuy phương pháp tu hành khác nhau, thầy Tiều đi vào đời sống xô
bồ đời thường và sư Trúc Lâm đi vào đời sống thanh tịnh ẩn dật, nhưng
cả hai vị tu sĩ nầy đều thấy rõ được bản chất cá nhân để chọn pháp môn
thích hợp cho mình và cho đời. Tôi có cảm tưởng như hai nhà sư xuất
hiện giữa đời nầy khác nhau như Sao Hôm, Sao Mai; nhưng từ trong cội
nguồn, họ là Sâm Thương, là một, là hai lữ hành cùng bước đi trên một
con đường Trí Tuệ dẫn về phương giải thoát.
Về hình thức văn chương, Tu Bụi
không phải là một tác phẩm tiểu thuyết (fiction) đúng nghĩa; mà cũng
chẳng phải là một tác phẩm biên khảo hay lịch sử mang tính phi tiểu
thuyết (non-fiction) thực sự. Nhiều đoạn văn đẹp và giàu vần điệu trôi
chảy như thơ. Nhiều đoạn văn lý luận mang tính triết học và phân tích
tâm lý rất sâu và trừu tượng. Cũng có những đoạn văn trình bầy sự kiện
lịch sử, dữ kiện xã hội và khoa học có thật để làm bối cảnh cho dòng
tưởng tượng trôi chảy.
Theo
tôi, đây là một tác phẩm mang đậm nét tinh thần đạo Phật, lý giải được
một số tín điều cũng như quan niệm triết học vẫn còn nằm sâu trong góc
khuất tư tưởng. Với cảm nhận nghệ thuật riêng, tôi nhận định rằng, Tu Bụi
vừa lôi cuốn, vừa khéo, vừa đẹp về cả ba phương diện văn học, triết học
và đạo học. Đây là một đạo Phật gần với triết lý sống thật giữa đời
hơn là chìm sâu trong thế giới tâm linh thuần tôn giáo.
Tuy
nhiên, điểm nổi bật hơn cả là cái tâm của người viết. Đấy là tấm lòng
hướng đến điều thiện. Tác giả Trần Kiêm Đoàn đã dùng một lối hành văn
trôi chảy uyển chuyển, giàu hình tượng và ví von đầy cảm xúc. Ngay cả
trong lý luận thì hình ảnh và cảm tính nghệ thuật cũng đã được vận dụng
một cách tài hoa. Lắm lúc, sự lãng mạn tràn trề hay phẫn nộ bùng vỡ,
nhưng vẫn giữ được vẻ tròn trịa, quý phái và cổ kính trong ý, trong từ
và trong điệu văn.
Trong một e-mail từ Colombo gửi cho anh Trần Kiêm Đoàn trong ngày Tết năm nay, tôi có đùa rằng: “Nếu
khi đọc Tu Bụi xong mà người ta nôn nóng muốn thử ‘tu bụi’ như thế nào
và muốn gặp một ‘thiền sư tu bụi’ coi thử ra sao… thì tác phẩm mới được
xem là thành công. Và biết đâu rồi sẽ có một dòng… Tu Bụi ra đời về sau
nầy.”
Có muôn vàn thứ bụi và lớp bụi trong Tu Bụi của tác giả Trần Kiêm Đoàn: Bụi đời, bụi tham, bụi danh, bụi tình, bụi nghĩa… cấu kết thành bụi vong tình. Mỗi thứ bụi đều khoác bằng những lớp áo nhiều vẻ, nhiều mầu đầy cuốn hút.
Gần
một nghìn năm trước, năm 1096, trong lễ trai tăng của hoàng thái hậu
Phù Cảm Linh Nhân ở Giao Châu, thiền sư Trí Không đã nói đến ý nghĩa tu
và giác ngộ rằng: "Tất cả mọi sinh linh đều có bản tính giác ngộ,
chỉ vì bụi vong tình che lấp, trôi theo nghiệp báo mà lưu lạc mãi trong
vòng ngũ thú. Phủi được hàng hàng lớp lớp bụi vong tình ấy thì chân tâm hiển hiện, Phật tính tỏ bày.”
Nếu
chỉ phủi bụi bằng đôi tay và cây chổi của đời thường thì chỉ làm cho
những lớp bụi có cơ dầy thêm. Bụi đời chỉ có thể rửa sạch bằng đôi mắt
thương (từ nhãn) và bằng tấm lòng trung chính (chân tâm). Tác phẩm Tu Bụi
đã thành công trong việc gợi ý “quét bụi trần gian” qua nghệ thuật kết
cấu mang tính biểu tượng (symbolism) và tâm lý nhân vật được xây dựng
mang tính cường điệu sáng tạo (creative exaggeration) gây ấn tượng sâu
và đậm cho người đọc.
Tu bụi để phủi được lớp bụi vong tình.
Trong dòng suối cũ tâm linh, có một con nước vừa lên, rất mới.
Mahinda Phúc Nguyên
Colombo, Tích Lan - mùa Xuân 2006