Nhiều vấn đề lý
thuyết chưa được giải quyết và cập nhật, khối lượng khá lớn từ, ngữ
lóng chưa được thống kê, xử lý và "giải mã" đầy đủ.
2. Tập
sách "Sổ tay từ - ngữ lóng tiếng Việt" này của chúng tôi cố gắng tập
hợp thật nhiều những từ, ngữ lóng đã và hiện có trong tiếng Việt. Chúng
tôi chưa dám gọi đây là Từ điển trước hết vì những người biên soạn
không phải là những nhà ngôn ngữ học nên không giải quyết được vấn đề
lý thuyết cơ bản: Tiếng lóng là gì?
Và sở dĩ chúng tôi nói chủ
quan là vì chúng tôi không hoàn toàn căn cứ theo những định nghĩa tiếng
lóng đã có trong các sách nghiên cứu tiếng Việt; chúng có khá nhiều
nhưng cũng chưa hoàn toàn thống nhất và có chỗ không còn hợp với thực
tế phát triển của ngôn ngữ hiện đại.
Chẳng hạn, trước đây các
nhà ngôn ngữ cho rằng "Tiếng lóng là một thứ tiếng ước lệ có tính chất
bí mật, một lối nói kín của bọn nhà nghề dùng để che giấu những ý nghĩ,
việc làm của mình cho người khác khỏi biết." (Lưu Vân Lăng) (1), "Nó
không phải là công cụ giao tế của xã hội mà chỉ là một số từ với ý
nghĩa bí hiểm của một nhóm người với mục đích không cho người khác
biết" (Nguyễn Văn Tu) (2), v.v...; nhưng theo chúng tôi, ngày nay tiêu
chí "bí mật" không còn là nhất thiết đối với một bộ phận khá lớn tiếng
lóng nữa. Hoặc quan niệm tiếng lóng có nghĩa xấu, tập trung chủ yếu vào
các nhóm xã hội giang hồ, lưu manh, tù tội, mại dâm, buôn gian bán
lận... cũng cần phải được xem lại.
Thực tế tiếng Việt hiện
đại cho thấy, tiếng lóng ngày càng mở rộng hơn, được nhiều nhóm xã hội
sử dụng hơn, ngày càng có xu hướng phát triển mạnh mẽ, nhất là đối với
giới trẻ đô thị và chúng còn được sử dụng nhiều trong tầng lớp trí
thức, doanh nhân...
Hầu như nhóm xã hội nào có cái gì chung về
sinh hoạt hay công việc... thì đều có tiếng lóng của riêng mình. Có thể
thấy rằng có bao nhiêu nhóm xã hội thì có bấy nhiêu kiểu tiếng lóng
khác nhau. Cho nên ở đây, để tiện lợi cho công việc, chúng tôi quan
niệm Tiếng lóng là loại ngôn ngữ riêng của một nhóm xã hội nhằm tạo ra
sự tách biệt với những người không liên đới; sự tách biệt này có thể là
nhằm mục đích giữ bí mật, nhưng cũng có thể chỉ nhằm tạo ra một nét
riêng cho nhóm xã hội mình.
3. Từ đó chúng tôi cho rằng tiếng lóng có những đặc điểm sau:
-
Tiếng lóng là một phương ngữ xã hội (vì chúng do các nhóm xã hội tạo
ra, chủ yếu được sử dụng trong nhóm xã hội ấy; sự thay đổi của chúng
phụ thuộc vào bối cảnh xã hội).
- Tiếng lóng chỉ được dùng trong giao tiếp không nghi thức và có giá trị trong một phạm vi xã hội hạn hẹp.
-
Tiếng lóng có tính chất lâm thời, chúng là một hiện tượng ký sinh vào
tiếng Việt, xuất hiện và mất đi, thay đổi thường xuyên, không ngừng.
4. Về thái độ đối với tiếng lóng, đến nay tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau.
Quan
điểm thứ nhất cho rằng tiếng lóng là hiện tượng không lành mạnh và kiên
quyết gạt nó ra khỏi ngôn ngữ văn hoá. "Những tiếng lóng này không làm
cho ngôn ngữ phong phú thêm lên mà chỉ làm cho nó bị tê liệt với số
lượng từ đông đảo, nay sinh mai chết"(3); "Khác biệt ngữ, tiếng lóng có
nghĩa xấu(4).
Quan điểm thứ hai thì đề nghị chấp nhận những từ
lóng "tích cực" nhằm bổ sung cho ngôn ngữ toàn dân: "Không lên án toàn
bộ song cũng không chấp nhận tất cả"(5); "Những tiếng lóng không thô
tục, mà chỉ là những tên gọi có hình ảnh của sự vật, hiện tượng nào đó
có thể được dùng phổ biến, dần dần thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân.
Trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, tiếng lóng được dùng làm một
phương tiện tu từ học để khắc hoạ tính cách và miêu tả hoàn cảnh sống
của nhân vật"(6).
Nhưng mặc các nhà nghiên cứu tranh luận, trong
thực tế cuộc sống thì thứ ngôn ngữ ấy vẫn nảy sinh và mất đi một cách
không ngừng, ngày càng phát triển, được nhiều tầng lớp xã hội sử dụng,
được những người viết đưa vào tác phẩm văn học, báo chí của mình như
một phương tiện tu từ học nhằm phản ánh sinh động đời sống xã hội và
tính cách nhân vật, làm tăng giá trị biểu đạt của tác phẩm.
Những
từ lóng sinh ra, tồn tại chính thức trong một phạm vi xã hội hạn hẹp,
nhưng không ổn định, nhiều từ dần dần biến mất (hoặc chúng không còn
được sử dụng nữa; hoặc chúng được giải mã, đi vào vốn từ chung của toàn
dân, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày và trong các văn
bản hành chính, các ấn phẩm báo chí hay các tác phẩm văn học).
Bên
cạnh những từ lóng bị biến mất thì hàng ngày, hàng giờ, trong các nhóm
xã hội lại xuất hiện thêm những từ lóng mới. Dù được chấp nhận hay bị
phản đối thì tiếng lóng của người Việt vẫn là một bộ phận của ngôn ngữ
tiếng Việt, và có thể nói, thuộc loại năng động nhất. Trong xu hướng
bình dân, dân chủ hoá mọi hoạt động xã hội, văn chương, nghệ thuật hậu
hiện đại, tiếng lóng càng có vị trí và vai trò quan trọng cần được quan
tâm.
*****
(*) "Sổ tay từ - ngữ lóng tiếng
Việt" Nam Hồng - Lê Thị Yến (NXB Công an Nhân dân - Trung tâm Văn hoá
và Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản 2008).
(1) Lưu Vân Lăng, Khái luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, 1960, tr.75.
(2) Nguyễn Văn Tu, Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, H., 1968, tr.132.
(3) Hoàng Thị Châu, Tiếng Việt trên khắp miền đất nước, Nxb KHXH, H., 1989, tr.57.
(4)
Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn, Ngôn ngữ học:
Khuynh hướng - lĩnh vực - khái niệm (tập 2), Nxb KHXH, H., 1986,
tr.177.
(5) Ý kiến của Trịnh Liễn phát biểu trong Hội nghị
"Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ" được tổ chức tại
Hà Nội tháng 10.1979.
(6) Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H., 2002, tr.64-65.